Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013

Văn tế điện thoại

Duy năm Quý Tỵ hai không mười ba, nước Việt ta, nhằm ngày mồng một tháng tám, mùa thu. Nhân văn Hán Nôm chân trắng, hậu học Lê Diễn Hối, nước mắt rửa mặt, tức tưởi đề vài lời, trước là để cảm kích chiếc điện thoại đã vì ta mà hỏng, sau là cảm tạ cái công bấy lâu nay nó đã vì ta mà hoạt động suốt ngày đêm không ngừng nghỉ, rằng:
Nước Việt Nam ta, theo dòng Cộng Sản.
Sáng tựa đèn pha, nhân từ hữu hạn.
Từ khi ta ra Kinh, vẫn hằng mong nghiệp lớn.
Biết bao đêm trằn trọc, đến mất ngủ triền miên.
Từ khi ngươi giúp sức, việc ta cũng nhàn nhiều.
Vậy mà:
Trời cao không có mắt, kẻ nghèo khó ngẩn ngơ.
Điện thoại có tội chi, mà nay còn đâu nữa.
Ngẫm mi:
Lúc bình thường theo ta đây đó, vẫn giúp ta nghe gọi nhắn tin.
Lại nhiều khi nhàn rỗi vô công, phây búc kia lượn lờ chém gió.
Quả là công lao luôn đầy đủ, lúc hỏng rồi còn nức tiếng thơm.
Nay ta cuộc sống nhiều khó khăn, nghĩ đến mi càng thêm cay đắng.
Giờ đây:
Không mi thêm buồn tẻ, cuộc sống có chi vui?
Thân cô nơi đất khách, vẫn mong cuộc gọi nhà.
Nào đâu là mộng ảo, chân trắng lại tay không.
Biết đến tận khi nào, mới có một em khác?
Mi giờ nơi cát bụi, đùa giỡn với gió trăng,
Có hay chăng nghĩ đến, chủ nhân xiết buồn đau.
Lúc mi lành hữu dụng, lúc hỏng mong phù trì.
Ôi! Đau đớn dường nào!
Mong mi ở nơi nao, hãy về đây nhận lấy.
Thượng hưởng!!!

Thứ 6, ngày 6 tháng 9 năm 2013.
Duy Phong Lê Đình Sơn

Thứ Hai, 15 tháng 7, 2013

Bài tựa sách Ngũ luân ký 五倫記序

1.      Phiên âm: Ngũ luân ký tự
Nhân chi ngũ luân, kỳ thiên chi ngũ hạnh dư? Cái nhân chi sở dĩ vi nhân, đắc ư thiên chi tứ dữ, bản ư tâm, căn ư tính. Hữu quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu. Sở vị Ngũ luân, nhân chi hữu nghĩa, hữu thân, hữu biệt, hữu tự, hữu tín. Thực tại nhân chi bất dung dĩ tu du li di luân chi đạo. Minh tắc khả phục kỳ sơ hỹ.
 Khí bẩm thiên cố học vấn, vu sơ ư ngũ giả, mỗi khủng kỳ bất năng tận dã. Hạnh kiến tiền bối Ngũ Luân Quốc Ngữ Ca, cụ đạo kỳ sở đương nhiên. Thời thủ nhi ngâm vịnh chi duyệt, dịch vu trung bất năng tự kỷ nãi ngộ tác giả chi ý, tương sử gia dụ hộ hiểu. Tuy nhi đồng, phụ nữ diệc giai đắc nhi tri chi dã.
Ta hu! Minh luân chi học, kinh tịch tải chi bị hỹ, nhi tư ký hựu thản nhiên minh bạch. Tiền bối hữu công ư thế, giáo diệc khởi tiểu. Vân đệ di bản hạo phồn âm điệu, hoặc hữu nan hiểu xứ. Ư thị, truy thuật tiền ngôn, giáo chính thanh luật, thủ kỳ dị tri giả, dụng tẩm vu tử dĩ quảng kỳ truyền. Thứ cơ, tiền bối chi di huấn thùy ư vô cùng nhĩ.
Cảm viết tự vân hồ tai.
Hoàng triều Minh Mệnh vạn niên chi thập nhất, quế nguyệt, cốc nhật.
Thọ Hà Bùi Tú Lĩnh giáo khắc.

2.      Dịch nghĩa: Bài tựa sách Ngũ luân ký
Ngũ luân tựa như là năm cái nết của trời vậy! Có lẽ, con người sở dĩ thực sự là con người là vì nhận được phú bẩm từ trời, vốn là ở tâm mà gốc là ở tính. Có năm mối gọi là ngũ luân, gồm: quân - thần, phụ - tử, phu - phụ, huynh - đệ, bằng - hữu. Bởi vì ngũ luân có nghĩa, có thân, có biệt, có tự, có tín, thực là ở chỗ con người nên lấy đó  làm cái phép thường mà không thể xa lìa dù chỉ là trong chốc lát. Nếu sáng tỏ được điều đó  thì có thể trở về được như lúc ban đầu vậy.
Khí bẩm thì hệ nhiều ở học vấn mà rồi thông suốt ở năm đạo luân thường. Chỉ lo rằng năm đạo thường không thể tận tỏ được hết vậy. May mắn thay là tôi được xem bản Ngũ luân Quốc ngữ ca五倫國語歌của các bậc tiền bối, [trong đó] có đầy đủ tất cả những điều mà năm đạo thường cần phải có. Lúc bấy giờ mới lấy nó (Ngũ luân quốc ngữ ca) mà ngâm vịnh, thì cảm thấy vui thích trong lòng mà không thể tự mình thấu tỏ được cái ý của tác giả muốn khiến cho nhà nhà ai cũng hiểu rõ, dù là trẻ nhỏ hay là phụ nữ cũng đều có được những hiểu biết về năm đạo thường (Ngũ luân).
Chao ôi! Làm cho sáng tỏ cái học về luân thường, sách vở xưa còn ghi đầy đủ, mà rồi những chỗ ghi chép này cũng tự nhiên mà sáng tỏ. Các bậc tiền bối đã có công với đời, có công với việc giáo hóa lại há có thể bị xem nhẹ. Nhưng rằng, bản còn sót lại có âm điệu mênh mông, phức tạp, hoặc có chỗ khó hiểu. Thế là, tôi tìm tòi và noi theo lời của tiền nhân, so sánh về thanh luật, lấy những chỗ dễ hiểu, dùng gỗ khắc in thành sách để được lưu truyền rộng rãi. Ngõ hầu cái dạy bảo của các bậc tiền bối lưu lại đến vô cùng.
Cho nên, tôi bạo dạn làm bài tựa như vậy.
Ngày lành tháng tám, năm Minh Mệnh thú 11 (1830).
Bùi Tú Lĩnh hiệu khắc ở Thọ Xương, Hà Nội.
Duy Phong (Lê Đình Sơn) dịch

Hà Nội, 15 tháng 7 năm 2013.

Thứ Năm, 17 tháng 1, 2013

Biểu tạ ơn

Sau khi thi xong môn cuối của học kì 1 năm học 2012-2-13, môn "Văn bản chữ Nôm", cảm khái soạn bài biểu. Tuy còn sơ sài và nông dại, nhưng cái cảm giác sau khi lần đầu tiên soạn biểu cũng thú vị lắm. Dưới đây là toàn bộ nội dung:
1.      Chữ Hán:
人文漢喃第弎年,衍悔黎廷山端肅,謹敬謝表尊師阮俊強。
弟子黎廷山稽首,頓手上言,本月拾七日,蒙師恩,賜題頗易,喜眾徒,試後,皆遂。時謹撰表稱謝者。伏以:
貳拾伍生徒,學喃字已外弎月,中期試已賜易題。
尊師在上,寵貴而恩過,又荷於新蒙。末期試又賜易題。
衆徒皆感,不及壹時,皆完而交。
其恩瀰六合,育勸衆徒之業學。
且學為己,求放心。衆第敢不益勉于學。
敎澤惠存,幸不勝言。
壬辰年,衍悔昇龍撰。
2.      Phiên âm:
Nhân văn Hán Nôm đệ tam niên, Diễn Hối Lê Đình Sơn đoan túc, cẩn kính tạ biểu tôn sư Nguyễn Tuấn Cường.
Đệ tử Lê Đình Sơn khể thủ, đốn thủ thướng ngôn, bản nguyệt thập thất nhật, mông sư ân, tứ đề phả dị, hỷ chúng đồ, thí hậu, giai toại. Thời cẩn soạn biểu xưng tạ giả. Phục dĩ:
Nhị thập ngũ sinh đồ, học Nôm tự dĩ ngoại tam nguyệt, trung kì thí dĩ tứ dị đề.
Tôn sư tại thượng, sủng quý nhi ân quá, hựu hà ư  tân mông. Mạt kì thí hựu tứ dị đề.
Chúng đồ giai cảm, bất cập nhất thời, giai hoàn nhi giao.
Kì ân di lục hợp, dục khuyến chúng đồ chi nghiệp học.
Thả học vị kỉ, cầu phóng tâm.
Chúng đệ cảm bất ích miễn vu học.
Giáo trạch huệ tồn,  hạnh bất thăng ngôn.
Nhâm Thìn niên, Diễn Hối Thăng Long soạn.
3.      Dịch nghĩa:
Sinh viên Hán Nôm năm thứ 3 trường Nhân văn, Diễn Hối Lê Đình Sơn nghiêm trang, kính cẩn dâng biểu lên thầy Nguyễn Tuấn Cường.
Đệ tử là Lê Đình Sơn cúi đầu bái lạy dâng lời, ngày 17 tháng này, đội ơn của thầy ban cho đề thi tương đối dễ, khiến chúng trò đều cảm thấy vui mừng, sau khi thi xong không ai là không mãn nguyện. Bấy giờ trò cẩn kính soạn bài biểu tạ ơn thầy. Trò cúi nghĩ rằng:
Hăm nhăm sinh viên, học chữ Nôm cũng đã được hơn ba tháng, kiểm tra giữa kì đã được ban đề dễ.
Tôn sư ở trên yêu mến mà ơn càng thêm nặng, chúng trò được đội thêm ơn mới, đề thi cuối kì lại cũng không khó.
Chúng trò đều lấy làm cảm kích, chẳng đầy một tiếng cả lớp đều làm xong và nộp bài.
Ơn của thầy phổ tràn cả sáu cõi, dạy dỗ và khuyến khích chúng trò trên con đường học vấn.
Vả lại học là vì mình, mong tìm lại cái tâm đã mất. Chúng trò sao dám không gắng gỏi học hành.
Ơn thầy còn mãi, hạnh phúc không nói nên lời.
Năm Nhâm Thìn, học trò là Duy Phong soạn biểu tại Thăng Long – Hà Nội.


(Bài này đã được đăng trên Facebook)