1.
Phiên âm: Ngũ luân ký tự
Nhân chi ngũ
luân, kỳ thiên chi ngũ hạnh dư? Cái nhân chi sở dĩ vi nhân, đắc ư thiên chi tứ
dữ, bản ư tâm, căn ư tính. Hữu quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu.
Sở vị Ngũ luân, nhân chi hữu nghĩa, hữu thân, hữu biệt, hữu tự, hữu tín. Thực tại
nhân chi bất dung dĩ tu du li di luân chi đạo. Minh tắc khả phục kỳ sơ hỹ.
Khí bẩm thiên cố học vấn, vu sơ ư ngũ giả, mỗi
khủng kỳ bất năng tận dã. Hạnh kiến tiền bối Ngũ Luân Quốc Ngữ Ca, cụ đạo kỳ sở đương nhiên. Thời thủ nhi ngâm vịnh
chi duyệt, dịch vu trung bất năng tự kỷ nãi ngộ tác giả chi ý, tương sử gia dụ
hộ hiểu. Tuy nhi đồng, phụ nữ diệc giai đắc nhi tri chi dã.
Ta hu! Minh luân
chi học, kinh tịch tải chi bị hỹ, nhi tư ký hựu thản nhiên minh bạch. Tiền bối
hữu công ư thế, giáo diệc khởi tiểu. Vân đệ di bản hạo phồn âm điệu, hoặc hữu
nan hiểu xứ. Ư thị, truy thuật tiền ngôn, giáo chính thanh luật, thủ kỳ dị tri
giả, dụng tẩm vu tử dĩ quảng kỳ truyền. Thứ cơ, tiền bối chi di huấn thùy ư vô
cùng nhĩ.
Cảm viết tự vân
hồ tai.
Hoàng triều Minh
Mệnh vạn niên chi thập nhất, quế nguyệt, cốc nhật.
Thọ Hà Bùi Tú
Lĩnh giáo khắc.
2.
Dịch nghĩa: Bài
tựa sách Ngũ luân ký
Ngũ luân tựa như
là năm cái nết của trời vậy! Có lẽ, con người sở dĩ thực sự là con người là vì
nhận được phú bẩm từ trời, vốn là ở tâm mà gốc là ở tính. Có năm mối gọi là ngũ
luân, gồm: quân - thần, phụ - tử, phu - phụ, huynh - đệ, bằng - hữu. Bởi vì ngũ
luân có nghĩa, có thân, có biệt, có tự, có tín, thực là ở chỗ con người nên lấy
đó làm cái phép thường mà không thể xa
lìa dù chỉ là trong chốc lát. Nếu sáng tỏ được điều đó thì có thể trở về được như lúc ban đầu vậy.
Khí bẩm thì hệ
nhiều ở học vấn mà rồi thông suốt ở năm đạo luân thường. Chỉ lo rằng năm đạo
thường không thể tận tỏ được hết vậy. May mắn thay là tôi được xem bản Ngũ luân Quốc ngữ ca五倫國語歌của các bậc tiền bối, [trong đó] có
đầy đủ tất cả những điều mà năm đạo thường cần phải có. Lúc bấy giờ mới lấy nó
(Ngũ luân quốc ngữ ca) mà ngâm vịnh, thì
cảm thấy vui thích trong lòng mà không thể tự mình thấu tỏ được cái ý của tác
giả muốn khiến cho nhà nhà ai cũng hiểu rõ, dù là trẻ nhỏ hay là phụ nữ cũng đều
có được những hiểu biết về năm đạo thường (Ngũ luân).
Chao ôi! Làm cho
sáng tỏ cái học về luân thường, sách vở xưa còn ghi đầy đủ, mà rồi những chỗ
ghi chép này cũng tự nhiên mà sáng tỏ. Các bậc tiền bối đã có công với đời, có
công với việc giáo hóa lại há có thể bị xem nhẹ. Nhưng rằng, bản còn sót lại có
âm điệu mênh mông, phức tạp, hoặc có chỗ khó hiểu. Thế là, tôi tìm tòi và noi
theo lời của tiền nhân, so sánh về thanh luật, lấy những chỗ dễ hiểu, dùng gỗ
khắc in thành sách để được lưu truyền rộng rãi. Ngõ hầu cái dạy bảo của các bậc
tiền bối lưu lại đến vô cùng.
Cho nên, tôi bạo
dạn làm bài tựa như vậy.
Ngày lành tháng
tám, năm Minh Mệnh thú 11 (1830).
Bùi Tú Lĩnh hiệu
khắc ở Thọ Xương, Hà Nội.
Duy Phong (Lê Đình Sơn) dịch
Hà Nội, 15 tháng 7 năm 2013.