Thứ Bảy, 27 tháng 5, 2017

Bố tôi và Trà

Bối tôi trước nay không uống trà!
Tôi vẫn nghĩ, hẳn là thời trẻ Ông đã từng phải uống qua ít nhất một lần ở đâu đó rồi chứ? Cũng chính bởi vậy, nên đêm hôm đó Ông đã bị cơn mất ngủ hành hạ, đến nỗi sợ trà như sợ cọp.
Nhưng không, Bố tôi cũng sợ rượu như sợ trà vậy.
Mùa đông năm 63 (1963), khi ấy là trước tết, Bố tôi từ Tứ Xuyên đã phải trải qua một chặng đường dài mấy ngàn cây số để về quê ăn tết. Tứ Xuyên là điểm cuối cùng mà Bố tôi phải chi viện trong chuỗi ba tuyến xây dựng lớn. Bố tôi vác về một chiếc bao bố rất to do chính tay Ông may, bên trong đựng hơn hai chục chiếc màn thầu đã cứng như đá, ba đôi giày bảo hộ lao động nhặt từ công trường, mười mấy đôi gang tay bảo hộ, bốn chiếc mũ thỏ, mấy chiếc áo len, khoảng năm chục cân (khoảng 25kg) gạo Tứ Xuyên. Với từng đó đồ, Bố tôi xuất phát từ vùng núi nơi Ông đóng quân, bắt xe tải đến Đông Sơn, rồi lại từ Đông Sơn ngồi xe khách đường dài đến Thành Đô, sau đó ngồi tàu từ Thành Đô đến Bắc Kinh, rồi mới đi tàu từ Bắc Kinh về Cáp Nhĩ Tân.
Tốc độ tối đa của tàu khi đó chỉ có 80km trên giờ, còn thông thường cũng chỉ chạy chừng 60km mà thôi. Khi đó, Bố tôi đã phải mất đến 5 ngày 5 đêm để đi từ Tứ Xuyên về Cáp Nhĩ Tân. Là một công nhân xây dựng, tranh thủ kì nghỉ về thăm người thân, thì rõ ràng là không thể có điều kiện để mua vé giường nằm. Khi đó, cho dù là mua vé ngồi đi chăng nữa, nhưng do đi tàu đường dài nên việc có vé mà không được ngồi thì cũng không có gì lạ. Bởi vì, tàu khi đó thường xuyên chở quá khách, có khi chở quá tới gấp rưỡi lượng khách quy định, với cả nhà ga của một số thành phố cũng thông báo thẳng phớ ra là bán vé không chỗ ngồi.
Trước Tết luôn là cao điểm vận tải hành khách, có biết bao người vội vã về quê ăn Tết, nên việc mua được một tấm vé không chỗ ngồi đối với họ cũng đã là cả một sự may mắn. Cũng chính vì lẽ đó, mỗi khi tàu quá tải, người ta thường xuyên nghe thấy tiếng loa phát thanh vang lên, giọng đầy tính tuyên truyền: “Kính chào quý khách! Hiện tàu đang bị quá tải, nên quyết định hủy bỏ vé ngồi, mong quý khách hãy nêu cao tinh thần Xã hội Chủ nghĩa, nhường chỗ cho nhau. Nam nhường cho nữ, thanh niên nhường cho người già, người tàn tật và trẻ nhỏ, vân vân.”
Khi đó, Bố tôi không chỉ là một thanh niên, hơn nữa, Ông lại mặc trên người một bộ trang phục của giai cấp công nhân – giai cấp luôn được mọi người tôn kính, cho nên, trên suốt chặng đường Ông đã luôn nêu cao tinh thần Xã hội Chủ nghĩa. Hay nói cách khác, trong suốt năm ngày năm đêm trên tàu, tôi chắc một điều rằng Bố tôi chỉ đứng mà thôi.
Khi về đến nhà, hai chân Bố tôi sưng vù, ấy vậy mà Ông lại rất phấn khởi. Trong số hai mươi mấy chiếc màn thầu cứng như đá kia, thì có tới hơn một nửa đã in dấu răng của Bố tôi. Ba đôi giày bảo hộ lao động được làm từ da trâu đã thuộc, chiếc nào cũng bị mòn và rách, nhưng chiếc nào cũng được Bố tôi dùng các mảnh da vá đè lên, tất cả chúng đều được Bố tôi nhặt từ công trường để đem về cho ba anh em chúng tôi. Ba đôi giày bảo hộ, đôi nào cũng đã được Bố tôi vá đùm lại đối với ba anh em chúng tôi mà nói, việc chúng rộng thùng thình là điều khó tránh khỏi. Mấy đôi gang tay cũng là do Bố tôi nhặt được từ công trường, chiếc nào cũng đã được Ông vá lại. Mấy chiếc áo len cũng là do Bố tôi mới nhặt được, nhưng chúng rách tới mức không thể vá lại được như mấy đôi gang tay, giờ phải dùng phẩm nhuộm lại, rồi sau đó mới đan lại từng mũi. Có một chiếc cho Mẹ và một chiếc cho em gái tôi. Chỉ có bốn chiếc mũ thỏ đều là mới, chúng được Bố tôi mua tại một nhà ga nọ ở Tây Bắc, bốn anh em chúng tôi mỗi đứa được một chiếc. Cuối cùng, Bố tôi lấy từ trong chiếc bao bố ra một chiếc túi được làm từ da bò, bên trong là một chiếc bọc được bọc từ giấy gói bánh ga tô.
Bố đưa chiếc bọc giấy cho Mẹ và dặn: “Đây là trà, ở vùng Đông Bắc này hiếm lắm, hôm nào đem biếu hàng xóm mỗi nhà một ít, cất cẩn thận, đừng để bị ẩm.”
Năm 63 (1963), khi đó tôi đã 10 tuổi, vậy mà chưa từng được nhìn thấy trà bao giờ. Nhưng nhờ một lần đọc tiểu thuyết thì tôi cũng biết được rằng đấy là thứ đồ uống dùng để đãi khác của những nhà có điều kiện ở miền Nam.
Hai hôm sau, Bố và Mẹ đem trà chia ra làm 10 phần, mỗi phần lại dùng giấy đỏ gói gém lại cẩn thận. Giấy đỏ là do Mẹ bảo tôi đi mua, năm xu một tờ, Mẹ dặn mua hai tờ. Mẹ tôi vốn là định dùng giấy đỏ để cắt hoa giấy, nhưng Bố tôi lại kiên quyết muốn dùng giấy đỏ đó để gói trà, Ông nói rằng phải như vậy thì mới thể hiện được lòng thành của mình. Khi đó tôi ngồi bên cạnh cắt giấy, Mẹ tôi còn nói vài câu với vẻ dường như không hài lòng lắm. Mẹ đi với Bố, hai người đi gõ cửa từng nhà để biếu trà, lúc về trông mặt họ đều rất phấn khởi, khi đó tôi nghĩ rằng điều đó đã đủ để chứng minh khi nhận được trà hàng xóm đã vui như thế nào. Mồng 1 Tết, tụi trẻ cứ đi ra đi vào ngay cổng hợp viện. Chúng tôi ở tại một hợp viện khá lớn, và lớp trẻ thường đi chúc Tết trước.
Một thím hàng xóm tiện mồm hỏi tôi: “Ngoài trà ra thì Bố cháu có còn đem thứ gì về nữa không?”
Tôi đáp cũng buột mồm đáp ngay: “Còn có năm mươi cân (25kg) gạo nữa ạ!”
Tức thì, chú thím ấy nhìn nhau với một ánh mắt rất lạ. Họ là hàng xóm qua lại gần gũi nhất với nhà tôi.
Khi đó, tôi chỉ cảm thấy rằng ánh mắt chú thím ấy nhìn nhau thực rất lạ.
Tối mồng 2 Tết, cô con gái của chú thím ấy qua nhà tôi, đem theo gói trà còn nguyên chưa bóc đem trả. Cô bé đó nói:  “Bố cháu bảo, nhà cháu không ai thích uống trà, đồ tốt như vậy thì không nên phung phí.”
Với tôi khi đó mà nói, đấy là một việc rất đỗi bình thường, chẳng có gì lạ cả. Đối với một người Cáp Nhĩ Tân trong khoảng thời gian mấy năm cũng không được nhìn thấy trà lấy một lần mà nói, khách khứa không mời dùng bữa thì chia ra làm ba bậc, mỗi bậc lại theo lễ tiết tiếp đãi: một là mời nước trắng, hai là mời nước đường tinh, ba là mời nước đường phèn. Còn như đối với trà, thực ra về độ sang mà nói thì cũng chẳng quý hơn nước đường phèn là bao. Cho nên, nếu như họ không thích uống thì đem trả là một chuyện chẳng có gì làm lạ.
Cô bé nhà hàng xóm trở về, trên khuôn mặt cả Bố và Mẹ tôi đều hiện rõ vẻ khó xử.
Bố nói: “Hay mình đã làm gì không phải, khiến nhà bên đó phật ý nhỉ?”
Mẹ tôi cũng nói: “Trước nay vẫn qua lại rất tốt mà!” Nghĩ một lát, Mẹ hỏi tôi hôm mồng 1 đi chúc Tết có nói điều gì không nên không phải hay không. Tôi liền đem chuyện lúc được hỏi ở bên nhà hàng xóm kể rõ, mẹ tôi từ cảm giác khó hiểu dần chuyển sang cảm thấy có gì đó khó xử.
Bố tôi vỗ vỗ chán nói: “Tệ thật! Sao lại không nghĩ ra nên biếu thêm cho họ ít gạo cơ chứ!”
Năm 63 (1963), rất nhiều tỉnh thành của Trung Quốc đều xảy ra hạn hán, sản lượng lúa bị giảm sút nghiêm trọng. Do đó, toàn bộ thị dân trong thành phố Cáp Nhĩ Tân từ mỗi tháng được hai cân (1kg) gạo giảm xuống chỉ còn một cân (0.5kg). Ông bà ngoại nhà cô bé kia lại đều là người miền Nam, gạo của nhà cô bé vốn dĩ không thể cầm cự nổi được qua Tết.
Lúc này, Mẹ tôi cũng đã nghĩ đến điều đó mà lấy làm hối hận lắm, còn Bố tôi thì cũng đã đem túi gạo sẻ ra một cái chỉnh.
Mẹ tôi nhắc “được rồi đấy”, nhưng dường như Bố tôi vẫn còn lo chừng đó hơi ít. Lúc đó, Mẹ nói tiếp một câu khiến Bố đắn đo.
Mẹ nói: “Chỉ biếu một nhà, mà những nhà khác lại không biếu, như vậy có phải là đã phân biệt xa gần rồi hay không? Với cả, đây là họ đem trả lại trà trước, nếu chúng ta lại đem gạo qua biếu, hóa chẳng khiến đôi bên càng khó xử hay sao!”
Còn nếu như nhà nào cũng biếu, cho dù là mỗi nhà chỉ biếu hai ba cân (1 – 1.5kg), vậy thì chỗ gạo Bố đã phải vất vả cõng cả mấy ngàn cây số đem về chỉ còn lại có phân nửa thôi sao. Đừng nói là Mẹ tiếc như nào, đến Bố cũng cảm thấy tiếc đứt ruột, mà mấy anh em chúng tôi lại càng tiếc. Mặc dù chỗ gạo khi đó chỉ là gạo kho của Tứ Xuyên.
Cuối cùng, chỗ gạo kia cũng được giữ lại.
Còn về gói trà kia, về sau Mẹ tôi cũng đem biếu cho người khác.
Quan hệ của hai nhà chúng tôi không phải vì thế mà xảy ra mâu thuẫn, tuy nhiên, lớn bé hai nhà đều thấy trong lòng không thoải mái, chỉ là mọi người luôn cố gắng che giấu đi mà thôi.
Trước khi lên đường, Bố còn trách tôi: “Sao con lại nói ra câu đó làm gì cơ chứ?!”
Từ đó, tôi và Bố mỗi người một phương, cứ phải cách vài năm cả nhà lại mới được quây quần, chỉ có vẻn vẹn 2 tuần, hơn nữa thư từ qua lại cũng ít. Bởi Bố cũng chỉ biết có ít chữ, đấy là nhờ học được trong phong trào Bình dân học vụ, nếu như không nhờ người khác đọc, thì thư tôi gửi Bố sẽ không thể đọc hết được. Tuy nhiên, Bố lại luôn tự tay viết thư hồi âm, tuy chỉ có một trang giấy, mà Bố lại viết vừa to vừa nghệch ngoạc, khi thoảng lại sai chữ. Cũng chính vì thế, mỗi lần định viết thư cho Bố tôi đều thấy do dự.
Trước Tết năm 71 (1971), tôi từ binh đoàn trở về thăm nhà. Mùa đông năm đó không những lạnh mà tuyết rơi cũng rất lớn, Bố vốn cũng dự định về thăm nhà cùng đợt với tôi, nhưng cuối cùng lại không thành. Trong bức thư gửi về, Bố chỉ nói: “Do việc xây dựng quá gấp rút, nên không thể xin nghỉ được.”
Kể từ hồi xa nhau từ năm 1963, hai bố con chúng tôi đã 8 năm rồi không gặp nhau. Mà trong khoảng thời gian 8 năm đó, Mẹ tôi cũng đã già đi nhiều.
Mẹ nói với tôi, Bố từ Tứ Xuyên gửi về một cân trà (0.5kg), trong thư Bố nói rằng đã phải dùng 8 đồng để mua chỗ lộc trà đầu mùa đó. Bố muốn tôi trước Tết phải theo địa chỉ ghi trong thư đem biếu cho một người nọ.
Khi đó tôi đã 22 tuổi, nhưng vẫn chưa từng uống qua một ngụm trà! Bố tôi mỗi tháng nhiều nhất cũng chỉ gửi về nhà 40 đồng, còn về phía Ông cũng rất tiết kiệm, một miếng đậu phụ dành ăn ba ngày, đến vài xu mua thức ăn trong nhà ăn ông còn tiếc, vậy mà Ông lại bỏ ra 8 đồng để mua một cân trà (0.5kg), rồi lại từ xa xôi cả ngàn cây số gửi về để đem biếu người ta, tôi nghĩ hẳn là Bố đã phải nợ ân tình người ta nhiều lắm.
Hôm đó, anh cả bị liệt, Mẹ tôi cũng vì thời tiết mà bị viêm rất nặng, em ba cũng phải xuống làng, em bốn và em gái út cũng có việc quan trọng, thành thử chỉ có mình tôi đem cân trà kia đi biếu. Khi đó, một cân (0.5kg) trà Tứ Xuyên ở Cáp Nhĩ Tân quả thực là rất quý giá.
“Xóm cơ khí” nằm ở ngoại thành, cách nhà tôi hơn mười lăm cây, với cả hồi đó giao thông đi lại không thuận tiện, khi đó vẫn chưa có taxi. Do đó, trước tiên tôi phải bắt xe bus đến một trạm ở ngoại thành, sau đó lại xuống xe tiếp tục đi bộ. Do đoạn đường quốc lộ ấy tuyết vẫn còn phủ dày tới hơn một thước nên rất ít xe cộ qua lại, tôi đã phải đi bộ cả chục cây số, mỗi bước chân tôi đi qua đều in lại dấu chân trên tuyết, cuối cùng cũng đã đến được “xóm cơ khí”. Nhà ở khu đó tất cả đều được xây mái bằng và nhà tầng, bố trí trái phải hai dãy, khoảng cách giữa hai dãy cũng khá xa. Địa chỉ biếu trà mà Bố dặn trong thư chỉ ghi là kí túc xá công nhân bao nhiêu, dãy bao nhiêu và số bao nhiêu, mà như vậy thì đồng nghĩa với việc tôi không tìm thấy địa chỉ để biếu trà. Bởi vì “xóm cơ khí” khi đó do ba xưởng hợp lại. Mỗi một xưởng lại phân làm kí túc của cán bộ và kí túc của công nhân, cán bộ ở nhà  tầng, công nhân ở nhà bằng. Điều này thì Bố không có nói rõ, tôi đi loanh quanhg hơn một giờ đồng hồ để hỏi thăm, nhưng cũng không khả quan. Cuối cùng, tôi đứng thở giữa trời đông giá rét, trông từng căn nhà cao tầng, rồi lại trông từng dãy nhà mái bằng, chán nản vô cùng.
Tôi về đến nhà thì trời cũng đã tối, không chỉ có vậy, tôi còn để quên cân trà trên xe bus.
Mẹ nghe tôi nói không những chưa biếu được trà mà còn để mất, thì bà đơ người ra, giống như bị phép định thân của Tôn Ngộ Không vậy.
Phải một lúc lâu, Mẹ mới phản ứng lại, Bà hỏi một cách đầy lo lắng: “Giờ phải làm sao? Phải làm sao bây giờ? Mẹ nghĩ Bố con đã gặp phải chuyện rất khó khăn, nên mới vội vàng viết thư nhờ người giúp đỡ như vậy, nếu không ông ấy sẽ không bỏ ra 8 đồng mua cân trà để biếu người ta đâu. Con cũng biết tính bố con đấy, ông ấy không quen cầu cạnh người khác bao giờ! Giờ phải làm sao đây? Phải làm sao đây con? Ai viết thư nói rõ chuyện cho Bố con biết đây? Chúng ta không nên giấu ông ấy.
Tôi rất hiểu tính Bố, và cũng nghĩ giống Mẹ, đương nhiên, kẻ rõ đầu đuôi câu chuyện cho Bố biết mới là một việc đúng đắn.
Tôi nói với Mẹ một cách đầy áy náy: “Mẹ đừng quá lo lắng. Lo cũng không giải quyết được gì, để con viết thư kể rõ cho Bố biết.”
Cũng bởi để mất đi cân trà kia, nên Tết năm 1971 mọi người trong nhà đều cảm thấy không vui. Loại trà 8 đồng một cân của Tứ Xuyên kia chẳng qua cũng chỉ là trà, nhưng sự lo lắng kia mới là điều khiến mẹ con chúng tôi thấy không vui nổi. Rốt cuộc, Bố đã gặp phải chuyện gì mà khiến cho một người trước nay không cầu cạnh người khác phải đi tìm sự giúp đỡ?
Trở về liên đội tôi mới viết thư cho Bố. Trong thư, tôi kể rõ lại sự việc, thừa nhận chính mình để mất gói trà, tiếp đó lại viết tới một đoạn dài chỉ để kể lại việc mình đã phải vất vả như thế nào mà vẫn không tìm thấy được địa chỉ nhà người kia, tôi chỉ nghĩ rằng việc kể rõ nguyên nhân khách quan đó sẽ khiến Bố hiểu và thông cảm. Tiếp đó, tôi trách Bố đã quá sơ ý, bởi chính Bố đã không ghi rõ địa chỉ. Cuối cùng, tôi gắng hỏi xem rốt cuộc Bố đã gặp chuyện gì, phải chăng là nằm ngoài khả năng giải quyết của Bố, đến mức phải nhờ người khác giúp đỡ? Nếu như không phải việc quá lớn, vậy thì vẫn nên tự mình giải quyết thì hơn. Những lời lẽ đó, giọng điệu giống như là con đang lên lớp Bố vậy.
Năm 1971, cả một năm trời Bố không hồi âm. Tôi hiểu rằng mình đã làm tổn thương lòng tự tôn của Bố. Bố đã giận.
Chớp mắt một cái đã là mùa hè năm 73, tôi lại trở về thăm nhà. Hơn nữa, Bố cũng về thăm nhà cùng đợt với tôi. Tính đến năm đó, tôi đã xa nhà đến năm thứ năm, bấm ngón tay mà tính, thì cũng vừa tròn 10 năm Bố con tôi mới được gặp nhau.
Bố giờ đã bị hói. Trong ấn tượng của tôi, Bố là một người rất cường tráng, giờ bỗng trở nên gầy gò như vậy, nhưng hai mắt vẫn sáng quắc như có thần. Cũng chỉ có điểm đó, là đủ để nói rõ tính cách vừa quật cường vừa chính trực của một lão công nhân như Bố.
Đợt đó, Bố cũng đem về một cân trà loại ngon.
Bố muốn đích thân đem trà đi biếu một người mà Ông vẫn luôn gọi là “người tốt”. Nhưng địa chỉ mà Bố nói vẫn là địa chỉ của hai năm trước, cái địa chỉ đã khiến tôi phải vất vả vô ích.
Tôi góp ý, nếu như cứ theo địa chỉ kia để đi thì chỉ có tốn công vô ích, nhưng Bố vẫn cứ theo ý mình, tôi cũng chỉ biết đi cùng với Ông.
Trên suốt quãng đường, tôi và Bố không hề nhắc đến vụ cân trà mà hai năm trước tôi đã đánh mất. Tôi cũng không xin lỗi Bố về bức thư khi đó, bới vì, nếu nhắc đến chuyện bức thư thì cũng chính là gián tiếp nhắc đến vụ cân trà. Hơn nữa, Bố tôi không hề giải thích bất cứ điều gì, cũng không hề lên lớp tôi, dường như hai năm trước giữa hai bố con không từng xảy ra chuyện gì không vui.
Tôi và Bố đã phải tìm nhà “người tốt” kia rất lâu, nhưng rốt cuộc vẫn không tìm thấy. Hôm đó trời rất nóng, tôi và Bố đều rất sốt ruột, mồ hôi thấm đẫm lưng áo của cả hai bố con. Trên đường trở về, không chịu được, tôi đã trách mấy câu khiến Bố nổi giận, Ông đứng bên đường đùng đùng quát: “Tao là bố mày! Tao làm gì cũng có lí của tao! Mày không nói thì chết ai hả?!”
Tôi nổi khùng, lớn tiếng cãi: “Anh bị ốm, giờ con như con cả trong nhà, nếu có gặp chuyện gì thì Bố cũng không nên giấu con! Con cũng có quyền được biết!”
Bố vung tay lên, như muốn cho tôi một cái bạt tai.
Trong mấy ngày gia đình đoàn tụ, Bố giận tôi. Mãi đến tận trước hôm trở về Tứ Xuyên, Bố mới hơi nguôi nguôi. Lúc ra ga tiễn Bố, Ông vô duyên vô cớ nói với tôi một câu: “Đến lúc cần thiết, thì đương nhiên Bố sẽ cho con biết. Nhưng có lẽ cả đời này Bố cũng không nói cho con biết, cũng không nói cho Mẹ con biết, càng không nói cho các em con biết!”
Bố đem cân trà trở lại Tứ Xuyên, Ông sợ để ở nhà Mẹ tôi không cất cẩn thận, rồi lại để hỏng.
Những lời Bố nói, thực khiến tôi đi mà trong lòng luôn canh cánh không yên.
Trước tết năm 1977, tôi từ Bắc Kinh trở về Cáp Nhĩ Tân. Khi đó, tôi đã là một biên tập viên của xưởng chế tác phim điện ảnh Bắc Kinh, Bố tôi cũng đã về hưu. Bố tôi mãi tận năm 63 tuổi mới về hưu, cũng bởi gia cảnh khó khăn, nên đơn vị cho phép Bố về hưu muộn 3 năm.
Sau một đêm đổ tuyết, Bố gọi tôi cùng Ông một lần nữa đem cân trà mua từ Tứ Xuyên kia đi biếu người mà Ông vẫn gọi là “người tốt”. Cân trà kia, lần đầu tiên khi đem từ Tứ Xuyên về Cáp Nhĩ Tân thì hãy còn là màu xanh, bây giờ Bố đem về thì đã ngã sang màu nâu. Bố không muốn lần nào cũng phải mất công mua, nên đã nhờ công nhân trong xưởng trà ở Tứ Xuyên đem sấy khô, để dễ dàng bảo quản.
Tôi nhắc Bố: “Nếu như vẫn là địa chỉ cũ, thì không đi là hơn. Rõ ràng là không tìm thấy thì có đi cũng chỉ mất công, vậy thì phải đi làm gì!”
Bố tôi lặng đi một lúc rồi nói: “Có địa chỉ mới rồi. Địa chỉ bây giờ hoàn toàn chính xác, hôm nay nhất định sẽ tìm thấy.”
Trên đường đi, Bố kể với tôi, khi Cách mạng văn hóa nổ ra không lâu, một lão công nhân xây dựng như Ông vốn đã nhiều lần được tặng giấy khen, nhưng không biết rốt cuộc lại bị ai đó viết đơn tố cáo Ông là một tên đặc vụ Hán gian. Bởi vì Bố biết nói mấy câu tiếng Nhật, trong hồ sơ án lại ghi rõ Ông đã từng làm cho một tiệm thuốc của Nhật, cho nên người ta mới tin Ông là đặc vụ Hán gian mà không hề nghi ngờ gì.
Bố kể: “Bọn họ trói ngược hai cánh tay Ông lại mà tra tấn, họ không chỉ ép Ông phải thừa nhận mình là đặc vụ Hán gian, lại còn ép Ông khai ra những tên Hán gian khác, giống như là năm xưa bọn lính Nhật tra tấn những người Trung Quốc kháng Nhật vậy. Nhưng Ông trước sau như một, nếu như là chuyện vu cáo hãm hại Ông, thì có đánh chết Ông cũng không nhận…”
Bố kể lại một cách rất bình tĩnh, nhưng tôi nghe mà rùng mình khiếp vía. Đấy quả thực là chuyện mà tôi chưa bao giờ nghĩ đến.
Tôi nghẹn ngào: “Bố, thực ra khi đó Bố có nhận thì cũng không sao mà. Hảo hán không chịu thiệt trước mắt!”
Bố nói: “Không được! Nếu như Bố nhận rồi, thì năm 1974 sao con có thể vào đại học! Nếu như Bố nhận rồi, cả nhà chúng ta chẳng phải chớp mắt là biến từ  gia đình “hồng ngũ” sang gia đình “hắc ngũ” hay sao?  Các con có thể chịu nổi sự kì thị trong những ngày tháng sau này không? Nếu như Bố nhận rồi, tiếp đó họ ép khai ra đồng bọn, vậy thì phải làm như nào? Cho nên khi đó Bố chỉ có hạ quyết tâm, nếu như là chuyện nhằm vu cáo hãm hại, thì cho dù là đánh chết Bố cũng không nhận.”
Những lời của Bố khiến nước mắt tôi cứa trào ra.
Lần này, tôi và Bố không đi đến “xóm cơ khí”, Bố dẫn tôi đến một nghĩa trang ở ngoại thành. Trên cột bia bằng gỗ có khắc họ tên của” người tốt” mà Bố vẫn thường kể. Bố nói: “Chính là ông ấy, ông ấy là một người Sơn Đông. Ông ấy cũng chính là người mà sau khi Bố đến Sơn Đông đã che chở cho Bố rất nhiều. Năm đó, cũng chính ông ấy đã giới thiệu cho Bố đến làm tại một tiệm thuốc rất lớn của Nhật, rồi cũng chính Bố cũng thường xuyên kể lại tình hình người Nhật đến mua thuốc tại tiệm cho ông ấy. Khi đó, Bố đã đoán ra được ông ấy kháng Nhật, sau khi giải phóng ông ấy được làm Huyện đội trưởng. Trong thời gian diễn ra Cách mạng văn hóa, bọn phản động ở Tứ Xuyên đến Cáp Nhĩ Tân điều tra ông ấy, chỉ mong chứng minh Bố đúng là đặc vụ Hán gian. Khi đó, ông ấy cũng đã bị nhốt vào cũi, nhưng ông đã đấu tranh với bọn họ tới cùng. Ông ấy tuyên bố: “Chúng mày đừng có mơ mà kiếm được gì từ chỗ tao! Đừng hòng!” Cho nên, bọn phản động kia mới không có cách nào kết tội Bố, chúng đành phải kết thúc thẩm tra, vậy nên con mới thuận lợi thi lên đại học, gia đình ta cũng mới tránh khỏi mang tiếng là gia đình “ngũ hắc”. Kì thực, Bố cũng không biết ông ấy không có thói quen uống trà, nhưng dù sao thì Bố cũng phải thể hiện tấm lòng của mình! Ngoài trà ra, Bố cũng chẳng có thứ gì đáng giá khác đem từ Tứ Xuyên trở về để biếu ông ấy.
Gói trà mà Bố đem đi đem về từ Tứ Xuyên kia, đến lúc về hưu Ông vẫn đem theo về, ngoài ra còn có một bình rượu trắng, Bố tôi cung kính đặt gói trà và bình rượu ngay trước nấm mồ.
Tôi nói: “Bố đặt ở ấy, thế nào cũng sẽ bị người ta lấy mất.”
Không làm chủ chính mình, tôi quỳ xuống.
Tôi đem rượu tưới lên gói trà, và đốt. Tôi và Bố rất giống nhau, không chỉ không thích uống rượu, mà ngay cả trà cũng không thích.
Bố tôi cũng đã mất cách đây mười mấy năm.
Giờ đây, trà đã trở thành món quà gặp mặt phổ biến ở Trung Quốc, hơn nữa, đóng gói cũng ngày càng đẹp, thậm chí là xa hoa một cách không cần thiết. Giờ, tôi thường nhớ đến Bố tôi và trà, nhớ đến câu chuyện về gia đình tôi và trà.

Xiada, Caiqingjie phòng 514, ngày 27 tháng 5 năm 2017
Văn: Lương Hiểu Thanh梁晓声 (Trung Quốc)
Duy phong (Lê Đình Sơn) dịch

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét