Bối tôi trước
nay không uống trà!
Tôi vẫn nghĩ, hẳn
là thời trẻ Ông đã từng phải uống qua ít nhất một lần ở đâu đó rồi chứ? Cũng
chính bởi vậy, nên đêm hôm đó Ông đã bị cơn mất ngủ hành hạ, đến nỗi sợ trà như
sợ cọp.
Nhưng không, Bố tôi
cũng sợ rượu như sợ trà vậy.
Mùa đông năm 63
(1963), khi ấy là trước tết, Bố tôi từ Tứ Xuyên đã phải trải qua một chặng đường
dài mấy ngàn cây số để về quê ăn tết. Tứ Xuyên là điểm cuối cùng mà Bố tôi phải
chi viện trong chuỗi ba tuyến xây dựng lớn. Bố tôi vác về một chiếc bao bố rất
to do chính tay Ông may, bên trong đựng hơn hai chục chiếc màn thầu đã cứng như
đá, ba đôi giày bảo hộ lao động nhặt từ công trường, mười mấy đôi gang tay bảo
hộ, bốn chiếc mũ thỏ, mấy chiếc áo len, khoảng năm chục cân (khoảng 25kg) gạo Tứ
Xuyên. Với từng đó đồ, Bố tôi xuất phát từ vùng núi nơi Ông đóng quân, bắt xe tải
đến Đông Sơn, rồi lại từ Đông Sơn ngồi xe khách đường dài đến Thành Đô, sau đó
ngồi tàu từ Thành Đô đến Bắc Kinh, rồi mới đi tàu từ Bắc Kinh về Cáp Nhĩ Tân.
Tốc độ tối đa của
tàu khi đó chỉ có 80km trên giờ, còn thông thường cũng chỉ chạy chừng 60km mà
thôi. Khi đó, Bố tôi đã phải mất đến 5 ngày 5 đêm để đi từ Tứ Xuyên về Cáp Nhĩ
Tân. Là một công nhân xây dựng, tranh thủ kì nghỉ về thăm người thân, thì rõ
ràng là không thể có điều kiện để mua vé giường nằm. Khi đó, cho dù là mua vé
ngồi đi chăng nữa, nhưng do đi tàu đường dài nên việc có vé mà không được ngồi thì
cũng không có gì lạ. Bởi vì, tàu khi đó thường xuyên chở quá khách, có khi chở quá
tới gấp rưỡi lượng khách quy định, với cả nhà ga của một số thành phố cũng thông
báo thẳng phớ ra là bán vé không chỗ ngồi.
Trước Tết luôn
là cao điểm vận tải hành khách, có biết bao người vội vã về quê ăn Tết, nên việc
mua được một tấm vé không chỗ ngồi đối với họ cũng đã là cả một sự may mắn. Cũng
chính vì lẽ đó, mỗi khi tàu quá tải, người ta thường xuyên nghe thấy tiếng loa
phát thanh vang lên, giọng đầy tính tuyên truyền: “Kính chào quý khách! Hiện tàu
đang bị quá tải, nên quyết định hủy bỏ vé ngồi, mong quý khách hãy nêu cao tinh
thần Xã hội Chủ nghĩa, nhường chỗ cho nhau. Nam nhường cho nữ, thanh niên nhường
cho người già, người tàn tật và trẻ nhỏ, vân vân.”
Khi đó, Bố tôi
không chỉ là một thanh niên, hơn nữa, Ông lại mặc trên người một bộ trang phục
của giai cấp công nhân – giai cấp luôn được mọi người tôn kính, cho nên, trên
suốt chặng đường Ông đã luôn nêu cao tinh thần Xã hội Chủ nghĩa. Hay nói cách
khác, trong suốt năm ngày năm đêm trên tàu, tôi chắc một điều rằng Bố tôi chỉ đứng
mà thôi.
Khi về đến nhà,
hai chân Bố tôi sưng vù, ấy vậy mà Ông lại rất phấn khởi. Trong số hai mươi mấy
chiếc màn thầu cứng như đá kia, thì có tới hơn một nửa đã in dấu răng của Bố
tôi. Ba đôi giày bảo hộ lao động được làm từ da trâu đã thuộc, chiếc nào cũng bị
mòn và rách, nhưng chiếc nào cũng được Bố tôi dùng các mảnh da vá đè lên, tất cả
chúng đều được Bố tôi nhặt từ công trường để đem về cho ba anh em chúng tôi. Ba
đôi giày bảo hộ, đôi nào cũng đã được Bố tôi vá đùm lại đối với ba anh em chúng
tôi mà nói, việc chúng rộng thùng thình là điều khó tránh khỏi. Mấy đôi gang
tay cũng là do Bố tôi nhặt được từ công trường, chiếc nào cũng đã được Ông vá lại.
Mấy chiếc áo len cũng là do Bố tôi mới nhặt được, nhưng chúng rách tới mức
không thể vá lại được như mấy đôi gang tay, giờ phải dùng phẩm nhuộm lại, rồi sau
đó mới đan lại từng mũi. Có một chiếc cho Mẹ và một chiếc cho em gái tôi. Chỉ
có bốn chiếc mũ thỏ đều là mới, chúng được Bố tôi mua tại một nhà ga nọ ở Tây Bắc,
bốn anh em chúng tôi mỗi đứa được một chiếc. Cuối cùng, Bố tôi lấy từ trong chiếc
bao bố ra một chiếc túi được làm từ da bò, bên trong là một chiếc bọc được bọc
từ giấy gói bánh ga tô.
Bố đưa chiếc bọc
giấy cho Mẹ và dặn: “Đây là trà, ở vùng Đông Bắc này hiếm lắm, hôm nào đem biếu
hàng xóm mỗi nhà một ít, cất cẩn thận, đừng để bị ẩm.”
Năm 63 (1963),
khi đó tôi đã 10 tuổi, vậy mà chưa từng được nhìn thấy trà bao giờ. Nhưng nhờ một
lần đọc tiểu thuyết thì tôi cũng biết được rằng đấy là thứ đồ uống dùng để đãi
khác của những nhà có điều kiện ở miền Nam.
Hai hôm sau, Bố
và Mẹ đem trà chia ra làm 10 phần, mỗi phần lại dùng giấy đỏ gói gém lại cẩn thận.
Giấy đỏ là do Mẹ bảo tôi đi mua, năm xu một tờ, Mẹ dặn mua hai tờ. Mẹ tôi vốn
là định dùng giấy đỏ để cắt hoa giấy, nhưng Bố tôi lại kiên quyết muốn dùng giấy
đỏ đó để gói trà, Ông nói rằng phải như vậy thì mới thể hiện được lòng thành của
mình. Khi đó tôi ngồi bên cạnh cắt giấy, Mẹ tôi còn nói vài câu với vẻ dường
như không hài lòng lắm. Mẹ đi với Bố, hai người đi gõ cửa từng nhà để biếu trà,
lúc về trông mặt họ đều rất phấn khởi, khi đó tôi nghĩ rằng điều đó đã đủ để chứng
minh khi nhận được trà hàng xóm đã vui như thế nào. Mồng 1 Tết, tụi trẻ cứ đi
ra đi vào ngay cổng hợp viện. Chúng tôi ở tại một hợp viện khá lớn, và lớp trẻ thường
đi chúc Tết trước.
Một thím hàng
xóm tiện mồm hỏi tôi: “Ngoài trà ra thì Bố cháu có còn đem thứ gì về nữa
không?”
Tôi đáp cũng buột
mồm đáp ngay: “Còn có năm mươi cân (25kg) gạo nữa ạ!”
Tức thì, chú
thím ấy nhìn nhau với một ánh mắt rất lạ. Họ là hàng xóm qua lại gần gũi nhất với
nhà tôi.
Khi đó, tôi chỉ
cảm thấy rằng ánh mắt chú thím ấy nhìn nhau thực rất lạ.
Tối mồng 2 Tết,
cô con gái của chú thím ấy qua nhà tôi, đem theo gói trà còn nguyên chưa bóc đem
trả. Cô bé đó nói: “Bố cháu bảo, nhà
cháu không ai thích uống trà, đồ tốt như vậy thì không nên phung phí.”
Với tôi khi đó
mà nói, đấy là một việc rất đỗi bình thường, chẳng có gì lạ cả. Đối với một người
Cáp Nhĩ Tân trong khoảng thời gian mấy năm cũng không được nhìn thấy trà lấy một
lần mà nói, khách khứa không mời dùng bữa thì chia ra làm ba bậc, mỗi bậc lại
theo lễ tiết tiếp đãi: một là mời nước trắng, hai là mời nước đường tinh, ba là
mời nước đường phèn. Còn như đối với trà, thực ra về độ sang mà nói thì cũng chẳng
quý hơn nước đường phèn là bao. Cho nên, nếu như họ không thích uống thì đem trả
là một chuyện chẳng có gì làm lạ.
Cô bé nhà hàng
xóm trở về, trên khuôn mặt cả Bố và Mẹ tôi đều hiện rõ vẻ khó xử.
Bố nói: “Hay mình
đã làm gì không phải, khiến nhà bên đó phật ý nhỉ?”
Mẹ tôi cũng nói:
“Trước nay vẫn qua lại rất tốt mà!” Nghĩ một lát, Mẹ hỏi tôi hôm mồng 1 đi chúc
Tết có nói điều gì không nên không phải hay không. Tôi liền đem chuyện lúc được
hỏi ở bên nhà hàng xóm kể rõ, mẹ tôi từ cảm giác khó hiểu dần chuyển sang cảm
thấy có gì đó khó xử.
Bố tôi vỗ vỗ
chán nói: “Tệ thật! Sao lại không nghĩ ra nên biếu thêm cho họ ít gạo cơ chứ!”
Năm 63 (1963), rất
nhiều tỉnh thành của Trung Quốc đều xảy ra hạn hán, sản lượng lúa bị giảm sút nghiêm
trọng. Do đó, toàn bộ thị dân trong thành phố Cáp Nhĩ Tân từ mỗi tháng được hai
cân (1kg) gạo giảm xuống chỉ còn một cân (0.5kg). Ông bà ngoại nhà cô bé kia lại
đều là người miền Nam, gạo của nhà cô bé vốn dĩ không thể cầm cự nổi được qua Tết.
Lúc này, Mẹ tôi cũng
đã nghĩ đến điều đó mà lấy làm hối hận lắm, còn Bố tôi thì cũng đã đem túi gạo
sẻ ra một cái chỉnh.
Mẹ tôi nhắc “được
rồi đấy”, nhưng dường như Bố tôi vẫn còn lo chừng đó hơi ít. Lúc đó, Mẹ nói tiếp
một câu khiến Bố đắn đo.
Mẹ nói: “Chỉ biếu
một nhà, mà những nhà khác lại không biếu, như vậy có phải là đã phân biệt xa gần
rồi hay không? Với cả, đây là họ đem trả lại trà trước, nếu chúng ta lại đem gạo
qua biếu, hóa chẳng khiến đôi bên càng khó xử hay sao!”
Còn nếu như nhà
nào cũng biếu, cho dù là mỗi nhà chỉ biếu hai ba cân (1 – 1.5kg), vậy thì chỗ gạo
Bố đã phải vất vả cõng cả mấy ngàn cây số đem về chỉ còn lại có phân nửa thôi
sao. Đừng nói là Mẹ tiếc như nào, đến Bố cũng cảm thấy tiếc đứt ruột, mà mấy
anh em chúng tôi lại càng tiếc. Mặc dù chỗ gạo khi đó chỉ là gạo kho của Tứ
Xuyên.
Cuối cùng, chỗ gạo
kia cũng được giữ lại.
Còn về gói trà
kia, về sau Mẹ tôi cũng đem biếu cho người khác.
Quan hệ của hai
nhà chúng tôi không phải vì thế mà xảy ra mâu thuẫn, tuy nhiên, lớn bé hai nhà
đều thấy trong lòng không thoải mái, chỉ là mọi người luôn cố gắng che giấu đi
mà thôi.
Trước khi lên đường,
Bố còn trách tôi: “Sao con lại nói ra câu đó làm gì cơ chứ?!”
Từ đó, tôi và Bố
mỗi người một phương, cứ phải cách vài năm cả nhà lại mới được quây quần, chỉ
có vẻn vẹn 2 tuần, hơn nữa thư từ qua lại cũng ít. Bởi Bố cũng chỉ biết có ít
chữ, đấy là nhờ học được trong phong trào Bình dân học vụ, nếu như không nhờ
người khác đọc, thì thư tôi gửi Bố sẽ không thể đọc hết được. Tuy nhiên, Bố lại
luôn tự tay viết thư hồi âm, tuy chỉ có một trang giấy, mà Bố lại viết vừa to vừa
nghệch ngoạc, khi thoảng lại sai chữ. Cũng chính vì thế, mỗi lần định viết thư
cho Bố tôi đều thấy do dự.
Trước Tết năm 71
(1971), tôi từ binh đoàn trở về thăm nhà. Mùa đông năm đó không những lạnh mà
tuyết rơi cũng rất lớn, Bố vốn cũng dự định về thăm nhà cùng đợt với tôi, nhưng
cuối cùng lại không thành. Trong bức thư gửi về, Bố chỉ nói: “Do việc xây dựng
quá gấp rút, nên không thể xin nghỉ được.”
Kể từ hồi xa
nhau từ năm 1963, hai bố con chúng tôi đã 8 năm rồi không gặp nhau. Mà trong
khoảng thời gian 8 năm đó, Mẹ tôi cũng đã già đi nhiều.
Mẹ nói với tôi,
Bố từ Tứ Xuyên gửi về một cân trà (0.5kg), trong thư Bố nói rằng đã phải dùng 8
đồng để mua chỗ lộc trà đầu mùa đó. Bố muốn tôi trước Tết phải theo địa chỉ ghi
trong thư đem biếu cho một người nọ.
Khi đó tôi đã 22
tuổi, nhưng vẫn chưa từng uống qua một ngụm trà! Bố tôi mỗi tháng nhiều nhất
cũng chỉ gửi về nhà 40 đồng, còn về phía Ông cũng rất tiết kiệm, một miếng đậu
phụ dành ăn ba ngày, đến vài xu mua thức ăn trong nhà ăn ông còn tiếc, vậy mà
Ông lại bỏ ra 8 đồng để mua một cân trà (0.5kg), rồi lại từ xa xôi cả ngàn cây
số gửi về để đem biếu người ta, tôi nghĩ hẳn là Bố đã phải nợ ân tình người ta
nhiều lắm.
Hôm đó, anh cả bị
liệt, Mẹ tôi cũng vì thời tiết mà bị viêm rất nặng, em ba cũng phải xuống làng,
em bốn và em gái út cũng có việc quan trọng, thành thử chỉ có mình tôi đem cân
trà kia đi biếu. Khi đó, một cân (0.5kg) trà Tứ Xuyên ở Cáp Nhĩ Tân quả thực là
rất quý giá.
“Xóm cơ khí” nằm
ở ngoại thành, cách nhà tôi hơn mười lăm cây, với cả hồi đó giao thông đi lại không
thuận tiện, khi đó vẫn chưa có taxi. Do đó, trước tiên tôi phải bắt xe bus đến
một trạm ở ngoại thành, sau đó lại xuống xe tiếp tục đi bộ. Do đoạn đường quốc
lộ ấy tuyết vẫn còn phủ dày tới hơn một thước nên rất ít xe cộ qua lại, tôi đã
phải đi bộ cả chục cây số, mỗi bước chân tôi đi qua đều in lại dấu chân trên
tuyết, cuối cùng cũng đã đến được “xóm cơ khí”. Nhà ở khu đó tất cả đều được
xây mái bằng và nhà tầng, bố trí trái phải hai dãy, khoảng cách giữa hai dãy cũng
khá xa. Địa chỉ biếu trà mà Bố dặn trong thư chỉ ghi là kí túc xá công nhân bao
nhiêu, dãy bao nhiêu và số bao nhiêu, mà như vậy thì đồng nghĩa với việc tôi
không tìm thấy địa chỉ để biếu trà. Bởi vì “xóm cơ khí” khi đó do ba xưởng hợp
lại. Mỗi một xưởng lại phân làm kí túc của cán bộ và kí túc của công nhân, cán
bộ ở nhà tầng, công nhân ở nhà bằng. Điều
này thì Bố không có nói rõ, tôi đi loanh quanhg hơn một giờ đồng hồ để hỏi
thăm, nhưng cũng không khả quan. Cuối cùng, tôi đứng thở giữa trời đông giá
rét, trông từng căn nhà cao tầng, rồi lại trông từng dãy nhà mái bằng, chán nản
vô cùng.
Tôi về đến nhà
thì trời cũng đã tối, không chỉ có vậy, tôi còn để quên cân trà trên xe bus.
Mẹ nghe tôi nói
không những chưa biếu được trà mà còn để mất, thì bà đơ người ra, giống như bị
phép định thân của Tôn Ngộ Không vậy.
Phải một lúc
lâu, Mẹ mới phản ứng lại, Bà hỏi một cách đầy lo lắng: “Giờ phải làm sao? Phải
làm sao bây giờ? Mẹ nghĩ Bố con đã gặp phải chuyện rất khó khăn, nên mới vội
vàng viết thư nhờ người giúp đỡ như vậy, nếu không ông ấy sẽ không bỏ ra 8 đồng
mua cân trà để biếu người ta đâu. Con cũng biết tính bố con đấy, ông ấy không
quen cầu cạnh người khác bao giờ! Giờ phải làm sao đây? Phải làm sao đây con?
Ai viết thư nói rõ chuyện cho Bố con biết đây? Chúng ta không nên giấu ông ấy.
Tôi rất hiểu
tính Bố, và cũng nghĩ giống Mẹ, đương nhiên, kẻ rõ đầu đuôi câu chuyện cho Bố
biết mới là một việc đúng đắn.
Tôi nói với Mẹ một
cách đầy áy náy: “Mẹ đừng quá lo lắng. Lo cũng không giải quyết được gì, để con
viết thư kể rõ cho Bố biết.”
Cũng bởi để mất
đi cân trà kia, nên Tết năm 1971 mọi người trong nhà đều cảm thấy không vui. Loại
trà 8 đồng một cân của Tứ Xuyên kia chẳng qua cũng chỉ là trà, nhưng sự lo lắng
kia mới là điều khiến mẹ con chúng tôi thấy không vui nổi. Rốt cuộc, Bố đã gặp
phải chuyện gì mà khiến cho một người trước nay không cầu cạnh người khác phải
đi tìm sự giúp đỡ?
Trở về liên đội
tôi mới viết thư cho Bố. Trong thư, tôi kể rõ lại sự việc, thừa nhận chính mình
để mất gói trà, tiếp đó lại viết tới một đoạn dài chỉ để kể lại việc mình đã phải
vất vả như thế nào mà vẫn không tìm thấy được địa chỉ nhà người kia, tôi chỉ
nghĩ rằng việc kể rõ nguyên nhân khách quan đó sẽ khiến Bố hiểu và thông cảm. Tiếp
đó, tôi trách Bố đã quá sơ ý, bởi chính Bố đã không ghi rõ địa chỉ. Cuối cùng,
tôi gắng hỏi xem rốt cuộc Bố đã gặp chuyện gì, phải chăng là nằm ngoài khả năng
giải quyết của Bố, đến mức phải nhờ người khác giúp đỡ? Nếu như không phải việc
quá lớn, vậy thì vẫn nên tự mình giải quyết thì hơn. Những lời lẽ đó, giọng điệu
giống như là con đang lên lớp Bố vậy.
Năm 1971, cả một
năm trời Bố không hồi âm. Tôi hiểu rằng mình đã làm tổn thương lòng tự tôn của
Bố. Bố đã giận.
Chớp mắt một cái
đã là mùa hè năm 73, tôi lại trở về thăm nhà. Hơn nữa, Bố cũng về thăm nhà cùng
đợt với tôi. Tính đến năm đó, tôi đã xa nhà đến năm thứ năm, bấm ngón tay mà
tính, thì cũng vừa tròn 10 năm Bố con tôi mới được gặp nhau.
Bố giờ đã bị hói.
Trong ấn tượng của tôi, Bố là một người rất cường tráng, giờ bỗng trở nên gầy
gò như vậy, nhưng hai mắt vẫn sáng quắc như có thần. Cũng chỉ có điểm đó, là đủ
để nói rõ tính cách vừa quật cường vừa chính trực của một lão công nhân như Bố.
Đợt đó, Bố cũng
đem về một cân trà loại ngon.
Bố muốn đích
thân đem trà đi biếu một người mà Ông vẫn luôn gọi là “người tốt”. Nhưng địa chỉ
mà Bố nói vẫn là địa chỉ của hai năm trước, cái địa chỉ đã khiến tôi phải vất vả
vô ích.
Tôi góp ý, nếu
như cứ theo địa chỉ kia để đi thì chỉ có tốn công vô ích, nhưng Bố vẫn cứ theo
ý mình, tôi cũng chỉ biết đi cùng với Ông.
Trên suốt quãng
đường, tôi và Bố không hề nhắc đến vụ cân trà mà hai năm trước tôi đã đánh mất.
Tôi cũng không xin lỗi Bố về bức thư khi đó, bới vì, nếu nhắc đến chuyện bức
thư thì cũng chính là gián tiếp nhắc đến vụ cân trà. Hơn nữa, Bố tôi không hề
giải thích bất cứ điều gì, cũng không hề lên lớp tôi, dường như hai năm trước
giữa hai bố con không từng xảy ra chuyện gì không vui.
Tôi và Bố đã phải
tìm nhà “người tốt” kia rất lâu, nhưng rốt cuộc vẫn không tìm thấy. Hôm đó trời
rất nóng, tôi và Bố đều rất sốt ruột, mồ hôi thấm đẫm lưng áo của cả hai bố
con. Trên đường trở về, không chịu được, tôi đã trách mấy câu khiến Bố nổi giận,
Ông đứng bên đường đùng đùng quát: “Tao là bố mày! Tao làm gì cũng có lí của
tao! Mày không nói thì chết ai hả?!”
Tôi nổi khùng, lớn
tiếng cãi: “Anh bị ốm, giờ con như con cả trong nhà, nếu có gặp chuyện gì thì Bố
cũng không nên giấu con! Con cũng có quyền được biết!”
Bố vung tay lên,
như muốn cho tôi một cái bạt tai.
Trong mấy ngày gia
đình đoàn tụ, Bố giận tôi. Mãi đến tận trước hôm trở về Tứ Xuyên, Bố mới hơi
nguôi nguôi. Lúc ra ga tiễn Bố, Ông vô duyên vô cớ nói với tôi một câu: “Đến
lúc cần thiết, thì đương nhiên Bố sẽ cho con biết. Nhưng có lẽ cả đời này Bố
cũng không nói cho con biết, cũng không nói cho Mẹ con biết, càng không nói cho
các em con biết!”
Bố đem cân trà
trở lại Tứ Xuyên, Ông sợ để ở nhà Mẹ tôi không cất cẩn thận, rồi lại để hỏng.
Những lời Bố
nói, thực khiến tôi đi mà trong lòng luôn canh cánh không yên.
Trước tết năm 1977,
tôi từ Bắc Kinh trở về Cáp Nhĩ Tân. Khi đó, tôi đã là một biên tập viên của xưởng
chế tác phim điện ảnh Bắc Kinh, Bố tôi cũng đã về hưu. Bố tôi mãi tận năm 63 tuổi
mới về hưu, cũng bởi gia cảnh khó khăn, nên đơn vị cho phép Bố về hưu muộn 3
năm.
Sau một đêm đổ
tuyết, Bố gọi tôi cùng Ông một lần nữa đem cân trà mua từ Tứ Xuyên kia đi biếu
người mà Ông vẫn gọi là “người tốt”. Cân trà kia, lần đầu tiên khi đem từ Tứ
Xuyên về Cáp Nhĩ Tân thì hãy còn là màu xanh, bây giờ Bố đem về thì đã ngã sang
màu nâu. Bố không muốn lần nào cũng phải mất công mua, nên đã nhờ công nhân
trong xưởng trà ở Tứ Xuyên đem sấy khô, để dễ dàng bảo quản.
Tôi nhắc Bố: “Nếu
như vẫn là địa chỉ cũ, thì không đi là hơn. Rõ ràng là không tìm thấy thì có đi
cũng chỉ mất công, vậy thì phải đi làm gì!”
Bố tôi lặng đi một
lúc rồi nói: “Có địa chỉ mới rồi. Địa chỉ bây giờ hoàn toàn chính xác, hôm nay
nhất định sẽ tìm thấy.”
Trên đường đi, Bố
kể với tôi, khi Cách mạng văn hóa nổ ra không lâu, một lão công nhân xây dựng
như Ông vốn đã nhiều lần được tặng giấy khen, nhưng không biết rốt cuộc lại bị
ai đó viết đơn tố cáo Ông là một tên đặc vụ Hán gian. Bởi vì Bố biết nói mấy
câu tiếng Nhật, trong hồ sơ án lại ghi rõ Ông đã từng làm cho một tiệm thuốc của
Nhật, cho nên người ta mới tin Ông là đặc vụ Hán gian mà không hề nghi ngờ gì.
Bố kể: “Bọn họ
trói ngược hai cánh tay Ông lại mà tra tấn, họ không chỉ ép Ông phải thừa nhận
mình là đặc vụ Hán gian, lại còn ép Ông khai ra những tên Hán gian khác, giống
như là năm xưa bọn lính Nhật tra tấn những người Trung Quốc kháng Nhật vậy. Nhưng
Ông trước sau như một, nếu như là chuyện vu cáo hãm hại Ông, thì có đánh chết
Ông cũng không nhận…”
Bố kể lại một
cách rất bình tĩnh, nhưng tôi nghe mà rùng mình khiếp vía. Đấy quả thực là chuyện
mà tôi chưa bao giờ nghĩ đến.
Tôi nghẹn ngào:
“Bố, thực ra khi đó Bố có nhận thì cũng không sao mà. Hảo hán không chịu thiệt
trước mắt!”
Bố nói: “Không
được! Nếu như Bố nhận rồi, thì năm 1974 sao con có thể vào đại học! Nếu như Bố
nhận rồi, cả nhà chúng ta chẳng phải chớp mắt là biến từ gia đình “hồng ngũ” sang gia đình “hắc ngũ”
hay sao? Các con có thể chịu nổi sự kì
thị trong những ngày tháng sau này không? Nếu như Bố nhận rồi, tiếp đó họ ép
khai ra đồng bọn, vậy thì phải làm như nào? Cho nên khi đó Bố chỉ có hạ quyết
tâm, nếu như là chuyện nhằm vu cáo hãm hại, thì cho dù là đánh chết Bố cũng
không nhận.”
Những lời của Bố
khiến nước mắt tôi cứa trào ra.
Lần này, tôi và
Bố không đi đến “xóm cơ khí”, Bố dẫn tôi đến một nghĩa trang ở ngoại thành.
Trên cột bia bằng gỗ có khắc họ tên của” người tốt” mà Bố vẫn thường kể. Bố
nói: “Chính là ông ấy, ông ấy là một người Sơn Đông. Ông ấy cũng chính là người
mà sau khi Bố đến Sơn Đông đã che chở cho Bố rất nhiều. Năm đó, cũng chính ông ấy
đã giới thiệu cho Bố đến làm tại một tiệm thuốc rất lớn của Nhật, rồi cũng
chính Bố cũng thường xuyên kể lại tình hình người Nhật đến mua thuốc tại tiệm
cho ông ấy. Khi đó, Bố đã đoán ra được ông ấy kháng Nhật, sau khi giải phóng
ông ấy được làm Huyện đội trưởng. Trong thời gian diễn ra Cách mạng văn hóa, bọn
phản động ở Tứ Xuyên đến Cáp Nhĩ Tân điều tra ông ấy, chỉ mong chứng minh Bố
đúng là đặc vụ Hán gian. Khi đó, ông ấy cũng đã bị nhốt vào cũi, nhưng ông đã đấu
tranh với bọn họ tới cùng. Ông ấy tuyên bố: “Chúng mày đừng có mơ mà kiếm được
gì từ chỗ tao! Đừng hòng!” Cho nên, bọn phản động kia mới không có cách nào kết
tội Bố, chúng đành phải kết thúc thẩm tra, vậy nên con mới thuận lợi thi lên đại
học, gia đình ta cũng mới tránh khỏi mang tiếng là gia đình “ngũ hắc”. Kì thực,
Bố cũng không biết ông ấy không có thói quen uống trà, nhưng dù sao thì Bố cũng
phải thể hiện tấm lòng của mình! Ngoài trà ra, Bố cũng chẳng có thứ gì đáng giá
khác đem từ Tứ Xuyên trở về để biếu ông ấy.
Gói trà mà Bố
đem đi đem về từ Tứ Xuyên kia, đến lúc về hưu Ông vẫn đem theo về, ngoài ra còn
có một bình rượu trắng, Bố tôi cung kính đặt gói trà và bình rượu ngay trước nấm
mồ.
Tôi nói: “Bố đặt
ở ấy, thế nào cũng sẽ bị người ta lấy mất.”
Không làm chủ
chính mình, tôi quỳ xuống.
Tôi đem rượu tưới
lên gói trà, và đốt. Tôi và Bố rất giống nhau, không chỉ không thích uống rượu,
mà ngay cả trà cũng không thích.
Bố tôi cũng đã mất
cách đây mười mấy năm.
Giờ đây, trà đã
trở thành món quà gặp mặt phổ biến ở Trung Quốc, hơn nữa, đóng gói cũng ngày
càng đẹp, thậm chí là xa hoa một cách không cần thiết. Giờ, tôi thường nhớ đến Bố
tôi và trà, nhớ đến câu chuyện về gia đình tôi và trà.
Xiada,
Caiqingjie phòng 514, ngày 27 tháng 5 năm 2017
Văn:
Lương Hiểu Thanh梁晓声 (Trung Quốc)
Duy
phong (Lê Đình Sơn) dịch
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét