Thứ Năm, 9 tháng 2, 2017

Những ngày đi học

Tập thể lớp 5B, ảnh chụp hôm tổng kết năm học 2000 - 2001.
Mái trường làng vẫn trầm lặng đằm mình trong những lớp sương mai tựa như những làn khói mỏng trong một buổi sớm đẹp trời của một ngày cuối đông. Gã nhẹ nhàng từng bước tựa hồ như sợ chính tiếng bước chân của gã sẽ làm kinh động đến giấc ngủ của muôn loài. Gã vẫn nhẹ nhàng từng bước, mỗi bước lại miên man tựa hồ như chiều dài tuổi thơ của gã. Những bước chân của gã cũng sẽ chẳng có gì đáng nói nếu như những dòng kí ức xưa cũ không cứ theo đó mà ùa về tựa như những cơn sóng triều trong một ngày biển động. Gã chững lại, buông thỏng hai vai, nhắm khẽ đôi mắt và nhẹ hàng hít thở từng hơi thật sâu, lục lại những file kỉ niệm nho nhỏ mà gã đã cẩn thận lưu lại trong sâu thẳm của bộ nhớ não bộ nhưng lại bị chính gã vô tình quên bẵng đi sau hàng chục năm với cả ngàn Gb của vô vàn những thứ khác của cuộc sống muôn màu. Gã bắt đầu lục lọi, mọi thứ cũng không quá khó để hiện ra ngay trước mắt gã. Hẳn là vậy! Gã dần tìm ra, gã thấy gã của mười mấy hai chục năm về trước đang nô đùa cùng chúng bạn trên sân trường vốn là một khoảng đất rộng rãi. Ngày đó gã ngịch, số lần đứng bảng và đội sổ đầu bài không phải là ít, rồi cả những lần cầm sách ra ngoài học thuộc đến khi nào thuộc rồi mới được vào lớp cũng nhiều không nhớ hết. Có lẽ, đối với lứa tuổi học trò thì đấy đều là những trang chói lọi trước khi bước vào đời với bao bộn bề của cuộc sống bon chen.
Mái trường làng giờ đây đã là những tòa nhà hai ba tầng mọc lên trên nền cũ của mái trường cấp bốn huyền thoại vốn đã đi vào kí ức của biết bao thế hệ. Gã nhớ ngày còn bé tí, mỗi lần làm văn tả về mái trường thì không thể thiếu được hình ảnh của mái ngói đỏ vàng, của cột cờ cao vót với lá cờ đỏ sao vàng đang bay phần phật trong gió, rồi hình ảnh của gốc bàng xù xì với những núm như vết sẹo to bằng cái bát, cho đến gốc phượng và những gốc bằng lăng tím ửng cả một góc trời trong một ngày đầu hạ, vân vân. Mái trường làng xưa kia cũng vậy, đẹp lắm! Ít nhất là những cảm nhận trong kí ức của gã. Người ta thích sự thay đổi, thích sự văn minh, tiến bộ, nên thay đổi mọi thứ cho hợp thời đại, điều đó cũng phải, gã cũng nghĩ vậy. Cũng chính nhờ sự đổi thay đấy mà tụi trẻ con giờ đây đến trường không còn phải chịu nỗi khổ của những hôm trời mưa và nước từ trên mái ngói cứ dột xuống tí ta tí tách như nhảy múa trên những trang vở của tụi trẻ con với khuôn mặt ngây thơ vô số tội. Tuy nhiên, không phải khi nào sự thay đổi cũng đồng nghĩa với việc sẽ tạo ra được những thứ mới tốt đẹp và hoàn hảo hơn những thứ cũ. Mái trường làng cũng vậy! Cũng có thể là do gã hoài cựu, cứ sống mãi trong những gì đã quá xa xôi mà giờ đây chỉ còn là dĩ vãng. Không biết ngoài gã ra, thì liệu có còn ai như vậy nữa không!
Mái trường xưa trong kí ức của gã đẹp vô cùng, một chiếc cổng nhẹ nhàng với một chiếc biển cũ đề tên trường đã phai màu vì sương gió, đôi khi vẹo đi sau một cơn bão. Bước qua cổng, hai bên tả hữu là hai mặt ao mà xung quanh um tùm những dương xỉ. Mặt ao bên phải có chút đặc biệt, giữa ao nổi lên một mô đất mà bên trên đã mọc sẵn một cây dừa cao vút, ngày đêm vươn mình làm bạn cùng những cơn gió nội. Gã cũng không rõ tại sao giữa ao lại mọc lên một mô đất mà lai sẵn một cây dừa như vậy. Cũng không biết liệu có phải ngày trước đấy là một khu đất trống, và cây dừa đó nằm ngay trên khu đất đó, về sau người ta đào ao thấy tiếc cây dừa nên chừa lại hay không, dù sao thì đấy cũng chỉ là suy luận của gã. Nhưng cho dù là sao đi chăng nữa, thì chính cái cây dừa và mô đất đó lại là nơi mà gã cùng chúng bạn ưa nhất trong mùa nước cạn. Cũng bởi nằm giữa ao giống như một hòn đão nhỏ giữa biển cả mênh mông, nên nó cô lập với xung quanh, và thường được chọn làm đại bản doanh trong trò chơi mà ngày đó tụi gã vẫn quen gọi là trò “săn bắt cướp”. Về sau, để mở rộng thêm sân trường, người ta cũng lấp đi cả hai mặt ao hai bên, cây dừa kia cũng bị đẵn đi từ khi nào cũng không hay.
Mái trường xưa kia giờ đây chỉ còn sót một vài dấu vết, nhưng với gã thì cũng chỉ cần từng đó dấu vết đó cũng đã đủ để minh chứng cho một thời đã qua đầy huy hoàng song cũng lắm xót xa. Mấy gốc xà cừ lực lưỡng mà chưa từng có đứa nào trong số gã đủ khả năng để leo lên tận ngọn, mỗi khi có quả nào rụng xuống thì ngay lập tức tụi học sinh tranh nhau lấy làm con quay, có khi cũng chỉ vì mấy quả xà cừ mà mấy đứa đánh nhau đến u đầu. Mấy gốc bàng già nhưng hàng năm vẫn đều đều trĩu quả, những mùa bàng chín, những trái bàng múp míp vàng uôm xen lẫn giữa những chiếc lá xanh tươi khẽ khàng rung rinh trong gió như mời gọi tụi đói ăn gã, gã nhớ khi bất đắc dĩ phải dùng dép ném bàng, bàng còn chưa thấy đâu mà dép đã mắc kẹt trên cành cao. Ôi, nhiều lắm, có kể cả ngày thì cũng chẳng hết được.
Nói về trường, mà không nói về con đường đến trường thì cũng là một thiếu sót lớn. Con đường đến trường là một con đường đất phẳng phiu và sạch sẽ, hai bên trồng đến mấy chục cây dừa, có lẽ ở quê gã, cây dừa có một sức sống bền bỉ cùng với giá trị kinh tế nên nó được trồng khá nhiều. Phía dưới nữa là những thửa ruộng đã được cẩn thận chia ra từng mẩu nho nhỏ, những những mẩu nho nhỏ đó cứ nối tiếp nhau cho đến tít tận xa xa. Mùa gặt, con đường lúc nào cũng phơi đầu những rơm rạ, hương thơm của đất trời cứ theo từng đợt gió thoang thoảng đem theo hương lúa mới như mơn man tụi gã trên những chặng đường đi tìm con chữ. Khổ nhất là mấy đứa đi xe đạp, khi thoảng lại bị cái lũ nghịch ngợm tụi gã ném rơm vào bánh xe, ác hơn nữa là còn bị tụi gã đẩy xe không cho dừng lại chỉ hòng mong sao cho rơm bám hết vào xích xe, vậy là mấy mem ấy lại một phen khổ sở, loay hoay mãi mà không cách nào kéo hết được rơm ra khỏi xích xe. Giờ nghĩ lại, gã bất chợt cười phá lên vì thích thú, nhưng rồi gã lại tựu hỏi sao ngày đó lại nghịch như vậy?
Nằm ngay trước trường, cũng là mé phải con đường là Ủy ban nhân dân xã, cạnh Ủy ban nhân dân xã là một rừng cây. Nói rừng cây thì hơi quá, bởi đó chỉ là tên gọi quen thuộc của tụi trẻ chăn trâu chăn bò như gã, chứ thực ra đấy chỉ là một vườn cây bạch đàn rộng mấy sào mà thôi, nhưng chính trong cái vườn cây bạch đàn mang danh là rừng cây ấy, lại có biết bao kỉ niệm của biết bao đứa như gã. Cũng bởi lẽ giờ đây rừng cây ấy không còn nữa, cho nên những kỉ niệm kia lại càng trở nên đẹp đẽ và đáng trân trọng hơn. Còn gì thú hơn trong một buổi chiều cuối đông, khi tiết trời vừa lạnh lại vừa khô, rồi trong không khí bỗng xuất hiện những bụi nước của những cơn mưa phùn, lúc bấy giờ khoai trên đồng cũng đã đến vụ, tại một bờ ruộng bên cạnh rừng cây, tụi gã phân nhau, đứa thì lo kiếm củi, đứa thì lo đi bới [trộm] khoai, đứa thì lo đào lò nhóm lửa. Mọi thứ phân công rõ ràng, chỉ nhoằng cái thì đã đâu vào đấy, và một lò lửa đỏ than đã nhanh chóng được tạo ra. Trong cái rét căm căm của trời đông khi thoảng lại tràn về từng đợt gió Đông Bắc, tụi gã mấy đứa trong những bộ quần áo mỏng manh vây quanh lò lửa cháy rực, hươ hươ những đôi bàn tay nhỏ bé trước ngọn lửa, ấm áp chẳng lời nào có thể diễn tả nỗi. Khi củi đã hết, than đã rực, tụi gã khéo léo tản nhẹ lớp than, cho khoai vào rồi lại nhẹ nhàng vun lên một lớp than mỏng, sau đó là sập mô đất đắp làm nắp lò ở trên xuống để ủ khoai, chỉ chừng dăm mười phút sau, từ cái lò lửa ấm áp kia, tụi gã lại từ từ bới lên những củ khoai đã chín nục đang ngoan ngoãn nằm đợi tụi háu ăn gã đánh chén, thực không gì thú hơn những tinh túy của đất trời đấy. Những củ khoai đầu mùa trên bái cao, được tôi luyện trong lớp than đỏ rực của những nhánh cây bạch đàn khô và ủ dưới lớp đất cát nóng, chín và bột, đã trở nên ngon nghẻ hơn bất cứ thứ quà nào mà tụi gã từng được ăn, đến giờ nghĩ lại thì cũng chỉ có còn cách nuốt nước miếng mà thèm chứ cũng đâu có còn. Thực là: bao giờ cho đến ngày xưa!
Nhắc đến trường quê trước kia, nếu không nhắc đến mấy quán hàng quà vặt trước cổng trường thì thực chả khác nào nhắc đến mấy đứa học sinh giỏi mà lại quên không nhắc đến những điểm mười ngoan ngoãn nằm trong cuốn vở sạch sẽ, hay những tờ giấy khen dán khin khít trên tường. Tụi gã không còn xa lạ gì với hai quán hàng rong ngay trước cổng trường của bà Toan và bà Trinh, tiếng là hai quán nhưng thực chất chỉ là hai chiếc thúng nhỏ mà bên trong đựng toàn những món quà vặt mà tụi gã thèm đến nhỏ dãi sau mỗi giờ tan học, về sau thì hai bà mới căng một tấm mái và sắm thêm cái bàn với cái ghế băng dài, lúc này mới thực thành quán. Quán hàng của bà Toan dường như đông khách hơn quán hàng của bà Trinh, gã cũng không biết là tại sao, nhưng chắc chắn một điều rằng không phải vì quà của bà Toan ngon hơn, bởi lẽ chính gã đã từng biết bao lần ăn quà từ quán của cả hai bà này. Ngày đó, khi thoảng xin được một tờ hai hào hay một tờ năm hào, thì gã lại sung sướng cất kĩ chờ khi tan học thì sà ngay vào quán hàng quà vặt ngay cổng trường. Lần thì mua kẹo lạc, lần thì mua kẹo dồi, lần thì kẹo chè lam, rồi gióng mía, nói chung là đủ thứ, thứ nào cũng đủ để thỏa mãn sự thèm thuồng vì đói ăn của tụi gã. Khi gã học xong cấp I thì quán hàng bà Trinh cũng không còn nữa, lí do thì là bởi bà Trinh khi đó đã cao tuổi, theo tiếng gọi của ông bà thì Bà ấy cũng lên đường. Người ta đến khi trăm tuổi, rồi cũng chả khác gì cỏ cây, vất vả một đời rồi cũng chỉ như cát bụi. Về sau, chỉ còn mỗi quán hàng bà Toan, đừng tưởng vậy thì quán sẽ đông khách hơn, bởi tụi học sinh (bao gồm cả gã) cũng dần quay lưng với quán hàng vốn đã trở nên quen thuộc, để tiếp xúc với một làn gió mới từ thành phố đưa xuống – đấy chính là trò chơi điện tử. Quán bà Toan cũng chỉ cố thủ thêm một thời gian rồi cũng lụi, giống như một gì đó đã hết thời huy hoàng thì tự nhiên tàn lụi, cũng giống như qua rằm thì trăng lại khuyết vậy. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, thì gã vẫn thấy vấn vương và tiếc nuối trước sự biến mất của hai quán quà vặt kia, một phần cũng bởi lẽ gã không thấy có hứng thú gì với mấy trò điện tử, phần cũng vì từ đó mà cũng hết có cơ hội ăn quà sau giờ học mặc dù khi thoảng trong túi có tiền.
Trường cấp II Hoằng Thành (bây giờ)
Ảnh chụp nhân một lần về thăm trường - hồi giáp Tết Đinh Dậu 2017.
Những ngày học dưới mái trường cũ trước kia của gã kéo dài cho tới khi gã học xong cấp I. Hồi đó, khi lên cấp II thì cũng chính là lúc khánh thành ngôi trường mới hai tầng khang trang, cũng chính từ đó gã cũng không bao giờ còn được thấy mái trường cấp bốn cũ kĩ nhưng lại khiến gã thích thú và nhớ nhung đến khôn cùng. Trường mới, môi trường học mới, cuộc sống mới, tất cả đều mới mẻ và lạ lẫm, lạ lẫm cho đến tận bây giờ vẫn chưa thôi. Gã còn nhớ rõ như in trong một tiết chào cờ của một ngày thứ hai, trong phong trào làm thơ tả về mái trường mới, có ai đó đã được nêu gương khen ngợi khi làm được một bài thơ mà gã chỉ còn nhớ vẻn vẹn hai câu “Trường em vừa mới xây xong, tám phòng ngăn nắp quét ve màu vàng.” Cũng chả biết bây giờ cái cô cậu nào đó làm bài thơ này đến bây giờ có còn nhớ hay không, nhưng gã thì ấn tượng bởi hai câu đó, bởi hai câu đó tả quá thực. Đúng là trường mới xây xong, có tám phòng cả thảy, và đều được quét ve màu vàng.  Ngày đó, sau mỗi tiết chào cờ còn có mấy chị lớp trên lên hát mấy bài về tuổi học trò, cũng phải công nhận là chất giọng của mấy chị đó mềm mại và có tình cảm, nghe cũng rất hay.
Gã cũng nhớ những giờ thể dục giữa giờ, lúc thì tập những động tác thể dục giữa giờ mà gã dám chắc một điều rằng tụi gã đều chán như nhau. Về sau, khi thoảng có thay đổi bằng điệu múa của bài hát “Em yêu trường em”, thì rồi lời bài hát cũng bị tụi gã chế thành “Em yêu trường em, với bao hàng kem, và cô bán quà…” , khi đó tụi gã còn sợ bị cô giáo bắt được và phạt, nên cũng chỉ dám truyền miệng nhau chứ đâu dám hát to. Rồi cũng có bận điệu múa bài “Em yêu trường em” được sử dụng để biểu diễn trong một ngày lễ nào đó mà gã cũng không còn nhớ rõ là ngày lễ gì. Chỉ nhớ khi đó tất cả các lớp từ khối một đến khối năm, mỗi khối lại phân làm các lớp A, B, C, rồi có cả D nữa, tất cả đều tập trung trên sân trường, quần xanh áo trắng (khi đó quần xanh áo trắng là chuẩn), sơ vin gọn gàng (khi đó tụi gã gọi sơ vin là đóng phăng, gã cũng không biết sao lại gọi vậy, nhưng nghe cứ như một từ trong tiếng Pháp), mỗi lớp lại chia làm hai hàng một hàng nam và một hàng nữ, đứng cách nhau một sải tay, trên mỗi tay lại có dán hoa bằng giấy màu, và khi điệu nhạc lời ca của bà “Em yêu trường em” cất lên thì tụi gã cũng theo đó mà múa. Đấy là bài hát và điệu múa mà gã nhớ nhất!
Lại nhắc đến chuyện mỗi khối lại phân các lớp A, B, C, D, suốt chín năm từ lớp một đến lớp chín, chỉ trừ năm lớp ba, tất cả các năm gã đều học lớp B, và gã ấn tượng nhất cũng chính là năm lớp ba. Đầu năm lớp ba, gã chuyển qua lớp C, học hết kỳ đầu, sang kỳ thứ hai thì gã lại chuyển sang lớp D. Hồi đấy, do khối ba quá đông nên sang kỳ hai lại phân thêm lớp D, và học sinh của lớp D được lấy từ các lớp kia. Đấy cũng là năm nhiều thay đổi tích cực nhất của gã.
Gã nhớ nhất vẫn là cô Mật, họ tên đầy đủ của cô là Bùi Thị Mật. Cô người Hoằng Lộc, chủ nhiệm lớp 3D, cũng chính là lớp gã khi đó. Gã nhớ, Cô có khuôn mặt tròn, mái tóc ngắn ngang vai, gã còn nhớ có lần cô để tóc hơi xoăn xoăn, trông rất đẹp. Cô Mật trước đó vốn không phải là giáo viên của trường, ngày Cô chuyển về trường thì được giao chủ nhiệm lớp gã, có lẽ đấy cũng chính là sự sắp đặt của tạo hóa (hoặc cũng có thể là sự sắp đặt của thầy Mơ hiệu trưởng). Gã nhớ, vườn nhà Cô có cây nhót nhiều quả lắm, có lần lớp tụi gã mấy đứa rủ nhau đến nhà Cô chơi thì được Cô lấy cho ăn, rõ thích. Điều khiến gã nhớ về Cô nhiều nhất, có lẽ vẫn là bởi Cô là người đầu tiên có thể khiến gã vượt lên để đứng trong top đầu về học tập trong lớp, cũng nhờ thế mà đầu năm lớp bốn gã mới được chuyển sang lớp chọn, khi đó ngoài gã còn có Hoằng (Hóa) và Thiết (còi) được chuyển qua lớp chọn. Nhưng rồi qua lớp chọn rồi thì gã lại chững lại, để rồi lại thêm một lần nữa thượng đế an bài để xuất hiện một cô có thể khiến gã vực dậy trở lại. Đấy chẳng phải ai khác ngoài cô Dung, ngày đó và cả bây giờ, mỗi khi nhắc đến Cô thì mọi người vẫn quen gọi Cô là Cô Dung C, đơn giản chỉ vì Cô dạy môn Văn (khối C). Cô tuổi Ngọ, tụi gã lại cũng tuổi Ngọ, và Cô chủ nhiệm lớp gã lại cũng đúng vào năm Ngọ, có lẽ vì thế nên tình cảm Cô trò rất tốt. Bây giờ, sau cả mươi năm, thì mối quan hệ cô trò vẫn rất tốt. Nói lại bảo mê tín, nhưng gã tin rằng, đấy có lẽ đấy chính là sự an bài tốt nhất của tạo hóa. Thịnh suy đắp đổi, nóng lạnh xoay vần, rồi gã cũng bị đuổi khỏi mấy trường làng khi thi trượt cấp 3.
(tiếp...)
Hà Nội 23h40, Thứ 5, ngày 09 tháng 2 năm 2017.
Duy Phong (Lê Đình Sơn) viết trước ngày xuất ngoại

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét