Thi
là bộ tổng tập thơ ca dân gian của Trung Quốc thời cổ trên tất cả các phương diện,
từ sinh hoạt đời thường đến lễ nghi; từ cuộc sống thôn dã đến nơi triều
đình, miếu mạo. Thi là tiếng lòng, là sự phản ánh của dân chúng đối với nền chính trị.
Thiên
tử nhà Chu yêu cầu các vua chư hầu phải thu thập thơ trong dân gian để dâng lên
cho mình xem xét qua những chuyến đi tuần thú. Từ đó, vua chư hầu lại sai các
quan đi thu thập thơ ca dân gian (thái thi), chư hầu dâng lên , thiên tử xem mà
thấy được phong tục (trần thi quan phong). Trong những bài thơ được dâng lên, dẫu
có bài chê trách chế độ, nhưng thiên tử không lấy đó mà trách phạt, trái lại
càng răn mình chăm lo cho chế độ.
Bởi
vậy, Thi là bản trường ca ca ngợi thời kì thịnh trị của nhà Chu, nhưng đó chỉ
là giai đoạn đầu, khi còn các bậc thánh vương như là Văn – Vũ – Chu công, luôn
được lòng dân hướng về.
Khi
Vũ Vương diệt nhà Thương, xác định nền thể chế của nhà Chu với đầy đủ lễ nhạc,
phong cho họ hàng thân thích cùng những đại thần có công các vùng đất để làm
chư hầu. Thiên tử nhà Chu ở nơi kinh kì, rộng ngàn dặm, những nơi khác là chư hầu.
Nhà Chu đặt ra các chế độ để chư hầu phụng sự, nhưng bản thân thiên tử nhà Chu
cũng có trách nhiệm bảo về chư hầu. Họ liên kết với nhau để chống lại các bộ tộc
bên ngoài (khuyển, nhung, bắc địch, đông di, nam man, rợ Hoài, kiểm doãn, …).
Thiên tử nhà Chu theo thông lệ thì 5 năm sẽ đi tuần thú 1 lần.
Khi
nhà Chu Bình Vương dời đô về Lạc Ấp, nhà Chu chuyển sang phía đông, thì trật tự
do nhà Chu đặt ra đã không còn được hiệu quả như trước nữa. Chư hầu ngày càng lớn
mạnh, lấn át thiên tử nhà Chu, thậm chí còn liên kết với những bộ tộc bên ngoài
để đánh chiếm lẫn nhau. Thời Xuân Thu thì mới dừng lại ở chuyện xưng bá, vẫn
còn phảng phất cái gọi là đức; nhưng sang thời Chiến Quốc thì chẳng còn gì cả,
kẻ mạnh diệt kẻ yếu.
Khi
Khổng Tử soạn Xuân Thu, Ngài gửi gắm vào đấy tinh thần phục tùng, đề cao thiên
tử nhà Chu. Mọi hành động đều hướng về cái gọi là chính danh và tôn vương
nhương di (đề cao thiên tử, xua đuổi di rợ). Cho nên, những ghi chép theo niên
hiệu hay tước phong của nhà Chu thì là khen, gọi thẳng tên thì thường là chê. Đấy
chính là cách ghi chép thể hiện tinh thần “ngụ bao biếm” (ngụ sự khen chê). Cho
nên mới nói, Nhất tự chi bao vinh ư hoa cổn; nhất tự chi biếm nhục ư phủ việt 一字之褒榮於華袞; 一字之貶辱於斧鉞 (một chữ khen
thì vinh hơn hoa gấm, một chữ chê sợ hơn búa rìu). Khổng Tử làm Xuân Thu mà loạn
thần tặc tử phải kinh sợ.
Bút
pháp của Xuân Thu trở thành lối bút của lối viết sử sau này, và là gương sáng rạng
soi danh phận, tôn chính thống, mãi là gương cho các bậc đế vương muôn đời.
Tài liệu tham khảo
1. Phạm Văn Khoái, Giáo trình Xuân thu Tả
truyện.
2. Giáo trình Ngữ văn Hán Nôm, tập 2 – Ngũ
kinh
Triều Khúc, Hà Nội ngày 13 tháng 12 năm
2013.
Duy Phong (Lê Đình Sơn)
(Dọn nhà thấy lại
bài kiểm tra môn Xuân Thu Tả truyện từ
trung tuần tháng 12 năm 2013, nay đăng cho đỡ mốc Blog).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét