![]() |
| Tháp Ngộ Không (nguồn: Internet) |
Sách vở của
Trung Quốc xưa nay vốn ghi chép ít nhất đến hai nhân vật Ngộ Không, một Ngộ
Không thần thánh đại náo thiên cung xuất hiện trong Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân, và một hòa thượng pháp danh Ngộ Không thời
Đường từng sang Ấn Độ thỉnh kinh và phiên dịch kinh Phật. Bài biên - dịch – tổng hợp này tập trung nói
đến Hòa thượng Ngộ Không – rất có thể đây là một trong những nền tảng để sau
này Ngô Thừa Ân xây dựng nên nhân vật Tề Thiên Đại Thánh Tôn Ngộ Không.
Về những thông tin có liên quan đến Hòa thượng Ngộ Không,
hiện còn có thể xem tại một số sách như: Ngộ
Không nhập Trúc ký 《悟空入竺记》 (gọi tắt là Nhập
ký《入记》) của Hòa thượng Viên Chiếu圆照đời Đường, Cao tăng
truyện – Thượng đô Chương Kính tự Ngộ Không truyện《宋高僧传·上都章敬寺悟空传》(gọi tắt là Ngộ Không truyện《悟空传》) của Hòa thượng Tán Ninh 赞宁 đời Tống. Ngoài ra, những dấu tích còn lại tại miếu Ngộ
Không tại núi Ta Nga, huyện Kính Dương, tỉnh Thiểm Tây, cũng như tấm bia Đại Minh tân kiến Ta Nga sơn trung Ngũ Đài
Chấn Tích tự Đường Ngộ Không thiền sư chi tháp minh ký《大明新建嵯峨山中五台振锡寺唐悟空禅师之塔铭记》(gọi tắt là Minh ký
《铭记》) khắc vào năm Gia Tĩnh thứ 20 triều Minh (năm 1541).
1.
Thân thế của Hòa thượng Ngộ Không
[Hòa thượng] Ngộ
Không, tục tính Xa, tên là Phụng Triều. Ngài còn có cựu danh là Pháp Giới[1],
Ngộ Không là pháp hiệu của Ngài. Hòa thượng Ngộ Không sống vào thời Đường, vốn
là người huyện Vân Dương, đất Kinh Triệu (nay là vùng tây bắc huyện Kinh Dương,
tỉnh Thiểm Tây). Tổ tiên Ngài vốn họ Thác Bạt, tộc Tiên Ty, dưới thời Bắc Ngụy.
Hòa thượng Ngộ Không thông minh tính trời, ham đọc sách vở của người Hán, từ bé
đã nổi danh một vùng. Về việc xuất gia của Ngài, cũng ẩn chứa khá nhiều tình tiết
li kì.
2. Nhân duyên xuất gia
Mới đầu, Hòa thượng
Ngộ Không vốn nhậm một chức quan nhỏ trong triều[2], khoảng
niên hiệu Thiên Bảo năm thứ 10 đời vua Đường Huyền Tông, Ngài phụng chỉ cùng
nhóm quan Trung sử là bọn Trương Thao Quang đi sứ đến đất Tân (nay là Kashmir)[3]. Cả
nhóm đi từ trung lộ con đường tơ lụa, đi qua An Tây (nay là huyện Khố Xa), vượt
qua cao nguyên Bạc Mĩ Nhĩ (dãy Pamirs), trải qua muôn ngàn gian khổ, cuối cùng
cũng đến được Đông đô Kiện Đà La (Gandhara) của đất Tân (Kashmir). Thực chẳng
may, lúc đoàn chuẩn bị lên đường trở về thì Ngài lại ngã bệnh, không thể lên đường
trở về cùng sứ đoàn. Do đó, Ngài phát nguyện, nếu như khỏi bệnh, nguyện xuống
tóc đi tu. Không ngờ, ít lâu sau Ngài khỏe lại, để thực hiện thệ nguyện trước
đó, Ngài đã bái Tam Tạng pháp sư Xá Lợi Việt Ma làm thầy, và xuống tóc đi tu
ngay tại chùa Kiện Đà La, lấy pháp danh là Đạt Ma Đà (nghĩa là: Pháp Giới[4]).
3. Thấu triệt Phật pháp, đường về gian nan
Sau khi xuất gia,
Ngài ở lại chùa Na Lạn Đà học kinh trong suốt 3 năm, lúc bấy giờ là niên hiệu
Chí Đức năm thứ 2 đời vua Đường Túc Tông (năm 757), lúc này Ngài mới 27 tuổi.
Trong khoảng thời
gian này, Ngài từng đi khắp các nước Bắc Thiên Trúc và Trung Thiên Trúc (thuộc
cổ Ấn Độ), tìm thăm Phật tích, học Phạn văn, đến chùa Khả Đôn[5]. Cứ
như vậy, Ngài tuần lễ mất hơn 4 năm, thế rồi: nhớ mong triều đình, phụ mẫu song
sinh, anh em nội ngoại, trong lòng không yên, Ngài phát nguyện trở về cố quốc,
nhưng lúc đầu Pháp sư Tam Tạng không đồng ý để Ngài về. Nhưng Ngài nhiều lần thỉnh
xin, tấm lòng thành khẩn của Ngài khiến Xá Lợi Việt Ma động lòng mà chấp thuận
lời thỉnh cầu của Ngài, lại còn tự tay đem ba bộ kinh quý bằng Phạn văn gồm Thập địa kinh, Thập lực kinh, Hồi hướng kinh
luận, cùng với một chiếc răng xá lị của Đức Phật, gói gém lại vào một chiếc
rương, để Ngài đem về dâng tặng triều đình.
Theo Nhập Trúc ký ghi chép, Hòa thượng Ngộ
Không đi theo con đường trước đây để trở về, khi đi qua nước Cốt Thổ (nay là
vùng tây nam của Tajikistan) cách Thành Đông không xa thì gặp một biển nhỏ
nhưng nước cực sâu. Lúc này, Long Vương biết có xá lị, liền làm mưa làm gió, sấm
ngang chớp dọc. Bên bờ biển có một đại thụ, Ngộ Không cùng các thương nhân ngồi
tránh dưới gốc cây, bỗng nhiên cành lá rơi rụng, ai nấy thất kinh. Lúc này, thủ
lĩnh đoàn thương nhân lên tiếng: “Ai giữ xá lị? Tại sao lại khiến Long thần nổi
giận như vậy? Hãy mau lấy ra, ném xuống biển! Để mọi người khỏi phải chịu những
điều kinh sợ như vậy!” Lúc này, Ngộ Không thành tâm khẩn nguyện, nguyện: lợi lạc
bản quốc, tế độ bang gia, tất thảy nhân do, đều nhờ Long thần. Ngài thành khẩn
khấn nguyện từ sớm đến trưa, khiến Long thần cảm động, và rồi trời quang mây tạnh.
Mọi người nhờ đó mà vượt biển an toàn.
Hòa thượng Ngộ
Không vượt qua Hưng Đô Khố Thậm Sơn興都庫什山 (Hindu Kush
Mountains) và Ngõa Cốc Hàm瓦穀函thuộc A Phú Hãn阿富汗 (Afghanistan) để
vào Tân Cương. Trước tiên, Ngài đến huyện Sơ Lặc (nay là vùng Khách Thập), quốc
vương Bùi Lãnh Lãnh 裴冷冷, Trấn thủ sứ Lỗ Dương, mời Ngài ở lại 5
tháng. Tiếp đó đến đất Điền, tên tiếng Phạn khi đó là Cồ Tát Đát Na瞿薩怛那 (tức Kusthana,
nhà Đường khi đó gọi là nước Địa Nhũ地乳國), quốc vương Úy Trì Diệu尉遲曜, Trấn thủ sứ Trịnh
Cứ鄭據 mời Ngài ở lại 6 tháng. Lại đến đất Cưu
Tư (nay là huyện Khố Xa), tứ trấn Tiết độ sứ, An Tây phó đại đô hộ kiêm Ngự sử
đại phu Quách Hân, Sa môn chùa Ứng Liên Hoa là Vật Đề Đề Tê Ngư thành khẩn thỉnh
cầu, Ngài lại dùng khoảng thời gian một năm để dịch bộ Thập lực kinh. Ngại lại đến đất Yên Kỳ, lại được quốc vương đất Yên
Kỳ là Long Như Lâm龍如林, Trấn thủ sứ Dương Nhật Giang楊日杠 khoản đãi và mời
ở lại ba tháng. Khi đó, do chiến loạn nên đường Hà Tây không thông suốt, khoảng
đến năm Đại Lịch thứ 9 (774), Hòa thượng Ngộ Không lại mới chuyển qua đường
phía bắc[6]. Khi
tới Bắc Đình đô hộ phủ, Bắc Đình Tiết độ sứ kiêm Ngự sử đại phu Dương Tập Cổ vốn
là tín đồ Phật môn, cũng rất hoan nghênh chào đón Ngài. Lại còn đề xướng chúng
tăng chùa Long Hưng龍興寺, lấy Ngài làm đại diện; cùng với Sa môn
hai tạng Điêu, Điền là Thi La Đạt Ma屍羅達摩 (âm Đường khi đó là Giới Pháp戒法); cùng nhau dịch
bộ Thập Địa Kinh và bộ Hồi hướng kinh luận. Do đường về gặp
trúc trắc, do đó hòa thượng Ngộ không chỉ đành lưu lại thêm mươi năm tại Bắc Đình.
Trong khoảng thời gian ở đây, Hòa thượng Ngộ Không còn gặp lại bọn tứ trấn Bắc
đình Tuyên úy trung sử Đoàn Tú Minh. Việc hòa thượng Ngộ Không ở lại Bắc đình,
đã mở ra một trang mới cho Phật giáo sử Bắc đình.
4. Trở về Tràng An
Ngày 12 tháng 5
niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ 5 (năm 789), quan Tiết độ nha áp tấu sự Bắc Đình
là Ngưu Hân cùng quan Đạo sự An Tây đạo sự là Trình Ngạc, cùng Trung sứ Đoàn Tú
Minh, theo đường qua đất Hồi Cốt để trở về. Nhưng do Khả Hãn của Hồi Cốt không
tín Phật giáo, nên tất thảy những kinh thư bằng Phạn văn đem theo đều phải để lại
chùa Long Hưng ở Bắc Đình, đoàn chỉ đem theo kinh thư bằng chữ Hán đi, trải thời
gian chừng 5 tháng, đến chừng tháng 6 niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ 6 (năm
790), mới an toàn về đến kinh đô Tràng An. Đường Đức Tông sắc lệnh cho Dược
Long Môn sứ viện thu xếp ổn thỏa cho các Ngài. Trung sứ Đoàn Tú Minh liền đem
những kinh Phật đã dịch được, cùng với chiếc răng xá lị của đức Thích Ca Mâu Ni
dâng lên. Ngày 15 tháng 5, triều đình phong cho Xa Phụng Triều pháp danh Ngộ
Không, đồng thời ban cho Ngài làm Đỗ Vũ tướng quân thủ Kim Ngô Vệ đại tướng
quân viên ngoại trí và Đồng chính viên kiêm Thí thái thường khanh, để biểu
dương việc Ngài đã xả thân cầu pháp và tấm lòng trung quân ái quốc của Ngài. Ngộ Không nhập Trúc ký chép cụ thể như
sau: niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ 6 nhà Đường (năm 794), Pháp Giới trở về
kinh đô Tràng An, đem chiếc răng xá lị của Đức Phật dâng lên Đường Đức Tông, Đức
Tông ban tặng cho Ngài pháp danh Ngộ Không. 《悟空入竺記》:唐貞元六年(西元790年)法界回到長安,將佛牙進獻唐德宗,德宗賜名悟空。Đại Trang Nghiêm tự tân
tu Phật nha bảo tháp ký cũng ghi: niên hiệu Trinh
Nguyên năm thứ 10 (năm 794), pháp sư Ngộ Không đem [xá lị] răng Phật dâng tại
chùa Đại Trang Nghiêm chốn Tràng An, [đồng thời] cho sửa sang mới lại Tháp răng
Phật. 《大莊嚴寺新修佛牙寶塔記》:貞元十年(西元794年)悟空佛牙移奉長安大莊嚴寺,新修佛牙寶塔。
Hòa thượng Ngộ Không đi Ấn Độ
thỉnh kinh, trải qua khoảng thời gian hơn 40 năm, đi qua 58 quốc gia và vùng
lãnh thổ (lúc bấy giờ), đem về 3 bộ kinh Phật bằng chữ Phạn, gồm: Thập địa kinh, Thập lực kinh, Hồi hướng kinh
luận; đồng thời, trên đường đi Ngài cũng đã tiến hành phiên dịch sang chữ
Hán 11 quyển, tương đương 129 trang; kế thừa Pháp Hiển, Huyền Trang và Nghĩa
Tránh, trở thành một phiên dịch gia và lữ hành gia.
5. Những năm cuối đời
Những năm cuối đời,
hòa thượng Ngộ Không sống ở chùa Chương Kính tại kinh đô Tràng An. Khi tuổi đã
ngoài 70, Ngài bỗng nhớ nhà da diết, nên quyết tâm trở về thăm quê hương bản
quán. Đáng tiếc rằng, khi Ngài trở về thì phụ mẫu cùng thân thích đã không còn
ai trên đời. Ngài đau khổ vô cùng, hận vì không thể phụng dưỡng song thân. Khoảng
cuối niên hiệu Trinh Nguyên (năm 805), Ngài viên tịch, thọ 75 tuổi[7]. Một
đời hoằng dương Phật pháp, đi Ấn Độ thỉnh kinh, phiên dịch kinh Phật, những
đóng góp của Ngài trong việc giao lưu văn hóa giữa Trung nguyên (Trung Quốc) với
bên ngoài là vô cùng quan trọng. Ngài trở thành vị pháp tăng cuối cùng đi Ấn Độ
thỉnh kinh hiện còn được sử sách ghi chép lại.
6. Ngộ Không nhập Trúc ký《悟空入竺記》- ghi
chép còn lại
Hòa thượng Ngộ
Không trở về kinh đô Tràng An ít lâu sau, cao tăng
Viên Chiếu đã đến hỏi han và biên chép lại quá trình Ngài đi khắp Thiên Trúc và
hành trình trở về của Ngài, biên thành sách Kinh
hành ký《經行記》, còn gọi là Ngộ Không
nhập Trúc ký《悟空入竺記》, được đưa vào Trinh
Nguyên Thích giáo lục《貞元釋教錄》, tiếc rằng đến nay sách đã thất truyền. Tuy nhiên, về đại
lược thì vẫn có thể tham khảo những nội dung có liên quan trong sách Cao Tăng truyện《高僧傳》của Huệ Giảo 慧皎 để biết. Sách ấy
không chỉ khái quát và giới thiệu về nguồn gốc cũng như sự phân bố của Phật
giáo Ấn Độ; cũng như khái quát và giới thiệu về chính trị, kinh tế và văn hóa của
các nước; thậm chí là trung Hà Tây do loạn An – Sử mà bị đứt đoạn, nhà Đường và
các nước vùng Tây vực cũng do đó mà mất liên hệ. Ngộ Không nhập Trúc ký《悟空入竺記》cũng ghi chép lại đầy đủ một số vùng đất quan trọng vùng
Tây vực dưới đời Đường, nhưng vẫn thiết lập quan viên, kiên trì gìn giữ biên
cương, cho đến tình hình liên lạc giữa những quan viên các vùng ấy với triều
đình, giúp cho chúng ta hiểu thêm hơn về những mối quan hệ giữa triều đình nhà
Đường với vùng Tây vực, cung cấp một tư liệu lịch sử quan trọng, bổ sung cho những
khuyết thiếu của chính sử.
7.
Miếu Ngộ Không – chứng tích
còn sót lại
Theo Kính Dương huyện chí 《泾阳县志》và văn bia còn lưu lại: thôn
Quan Đạo tại trấn Khẩu, huyện Kính Dương, xưa kia gọi là thôn Tiên Pháp. Miếu
Ngộ Không tại thôn này (thôn Quan Đạo, trước là thôn Tiên Pháp) còn được gọi là
miếu Đại Thánh, tọa lạc ngay tại mé nam của thôn, miếu [Đại Thánh] này mới được
xây dựng vào những năm niên hiệu Vạn Lịch đời vua Minh Thần Tông, đến nay cũng
đã có hơn 400 năm lịch sử. Cách miếu khoảng 10 km về phía đông bắc là núi Ta
Nga (xưa gọi là núi Kinh Sơn, Bút Giá sơn – tức núi có hình dáng giá bút), trên
núi là chùa Chấn Tích và Tháp hỏa cốt Ngộ Không; cách miếu [Đại Thánh] chừng 10
km về phía đông là mộ của Đường Đức Tông Lý Thích – người đã ban pháp hiệu Ngộ
Không. Cả ba tạo thành thế hô ứng lẫn nhau.
Tương truyền, xưa kia miếu Đại
Thánh có kiến trúc rất hoành tráng, được xây dựng trên khuôn viên rộng hơn 20 mẫu.
Cùng với sự đổi thay của lịch sử, đến chừng cuối đời Thành, miếu Đại Thánh chỉ
còn là một thể kiến trúc với 3 tòa 11 gian, và một lầu hát. Miếu Đại Thánh ngoảnh
hướng tây, chính diện cửa vào miếu là pho tượng Ngộ Không cao chừng 6 thước (chừng
1m8), [tượng] tọa lạc ngay tại tòa cuối cùng. Xét về pho tượng: hai mắt khẽ mở,
hai tay hợp chưởng, thân khoác cà sa, tỏa ánh hào quang. Phía sau pho tượng, là
tạo hình của Thủy Liêm Động tại Hoa Quả Sơn, trên tường vẽ mấy bức tranh miêu tả
lại một số câu chuyện về Ngộ Không và quá trình đi Tây thiên thỉnh kinh. Hai mé
nam bắc của chính điện Ngộ Không, là các Thiện phòng, là nơi tăng chúng thường
đến tụng kinh. Trước [đại] điện là 5 gian đại sảnh, rộng chừng trăm mét vuông,
xung quanh treo đầy những nội quy, với những biển gỗ nhiều màu sắc khác nhau.
Trong đó có một tấm có niên đại sớm nhất là vào năm Sùng Trinh thứ 15, do Vương
Chí Vân tặng. Bức lớn nhất dài chừng 8 thướng, rộng chừng 3 thước, đế xanh chữ
vàng, trên đề 4 chữ đại tự “bảo ngã xích tử[8]”. Số còn lại, hầu hết là các
bức biển có niên đại vào đời Thanh, nội dung đại loại như: hữu cầu tất ứng, uy
linh hiển thánh, … Chính giữa đại sảnh là một cây ô “vạn nhân tản[9]”, dùng đủ loại màu sắc kì dị
và đề tên các kiểu tạo thành, thực là vừa đẹp đẽ lại vừa khoáng đạt, vô cùng
tinh tế.Trước đại sảnh là ba gian được xây dựng theo lối kiến trúc yết sơn[10], ở giữa là nhà giữa[11], hai bên là hai toàn giải vũ, là nơi ở thường
ngày của trụ trì, mỗi khi có lễ hội thì dùng để tiếp đãi khách khứa […]. Đáng
tiếc, tượng Ngộ Không trong miếu đã bị phá hủy vào mùa thu năm 1967, đấy là một
sự tổn thất vô cùng to lớn. Đến nay, chỉ còn lại di chỉ chùa Chấn Tích và Tháp
Linh Cốt, những văn vật cổ tích khác đều đã bị phá vào những năm 1967 – 1968.
8.
Tạm kết
Như vậy, từ những ghi chép còn lại của sách vở cũng như những dấu tích
còn lưu lại, đến giờ chúng ta có thể biết rằng, trong thư tịch cổ Trung Quốc vốn
tồn tại hai nhân vật Ngộ Không: một Ngộ Không thần thánh trong trong Tây Du Ký
của Ngô Thừa Ân và một Ngộ Không bằng da bằng thịt chân thực – một Hòa thượng sống
vào đời Đường đã từng đi Tây thiên thỉnh kinh và phiên dịch kinh Phật.
Từ những ghi chép còn lại về Hòa thượng Ngộ Không, cho đến những chi tiết
trong Tây Du Ký, chúng ta có thể tạm thời đưa ra kết luận rằng, hai nhân vật Ngộ
Không này hoàn toàn có liên hệ mật thiết với nhau. Rất có thể, Ngô Thừa Ân đã
xâ dựng nhân vật Tề Thiên Đại Thánh Tôn Ngộ Không dựa trên nhân vật Hòa thượng
Ngộ Không.
Hạ Môn, ngày
15 tháng 6 năm 2017.
Lê Đình Sơn biên dịch và tổng hợp
Nguồn:
9.
[1] Pháp Giới là
pháp hiệu mà khi xuất gia Ngài được sư phụ là Tam Tạng ban cho.
[2] Khi nhập cung
nhậm chức, hòa thượng Ngộ Không mới chỉ 19 tuổi.
[3] Khi lĩnh chỉ đi
sứ, lúc này hòa thượng Ngộ Không mới chỉ 21 tuổi, tức là sau 2 năm nhập cung nhậm
chức.
[4] Pháp Giới là
pháp hiệu mà khi xuất gia Ngài được sư phụ là Tam Tạng ban cho.
[5] Khả Đôn vốn là
ngôi chùa do Hoàng hậu Đột Quyết xây dựng, có hơn 300 gian Già Lam, linh tháp
thụy tượng vô số.
[6] Nguyên văn chữ
Hán làBắc đạo 北道, thời cổ dùng để trỏ một trong những
con đường chính để đi từ Trung nguyên qua Tây vực.
[7] Có thuyết nói rằng
hòa thượng Ngộ Không viên tịch tại chùa Hộ Pháp kinh đô Tràng An, thọ 82 tuổi.
đối với thuyết này, hiện chúng tôi chưa tìm ra chứng cứ bác bỏ, nên chú lại đây
tham khảo.
[8] Xích tử, tức là
trỏ lê dân bá tánh. Bảo ngã xích tử, ý nói bảo vệ, phù trợ cho dân chúng.
[9] Vạn nhân tản:
thời xưa, những vị quan thanh liêm, yêu dân như con, được nhân dân tôn kính, do
đó dân chúng cùng nhau góp tiền làm một cây ô to để che nắng, bên trên có đề
tên những người góp tiền làm ô, dùng để tặng cho vị quan thanh liêm đó. Ý rằng
được dân chúng ủng hộ và mến mộ, vị quan thanh liêm đó cũng coi đó làm vẻ vang.
Chiếc ô cũng được coi như vật kỷ niệm khi nhậm quan vậy.
[11] Quá sảnh 过厅: Theo kiến trúc
xưa, thường xây dựng theo lỗi trước – giữa – sau, trong đó, tòa giữa nối tòa
trước và tòa sau, dó đó được thiết kế cửa thông với gian trước và gian sau. Quá
sảnh còn được gọi là gian giữa.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét