Thứ Bảy, 27 tháng 5, 2017

Bố tôi và Trà

Bối tôi trước nay không uống trà!
Tôi vẫn nghĩ, hẳn là thời trẻ Ông đã từng phải uống qua ít nhất một lần ở đâu đó rồi chứ? Cũng chính bởi vậy, nên đêm hôm đó Ông đã bị cơn mất ngủ hành hạ, đến nỗi sợ trà như sợ cọp.
Nhưng không, Bố tôi cũng sợ rượu như sợ trà vậy.
Mùa đông năm 63 (1963), khi ấy là trước tết, Bố tôi từ Tứ Xuyên đã phải trải qua một chặng đường dài mấy ngàn cây số để về quê ăn tết. Tứ Xuyên là điểm cuối cùng mà Bố tôi phải chi viện trong chuỗi ba tuyến xây dựng lớn. Bố tôi vác về một chiếc bao bố rất to do chính tay Ông may, bên trong đựng hơn hai chục chiếc màn thầu đã cứng như đá, ba đôi giày bảo hộ lao động nhặt từ công trường, mười mấy đôi gang tay bảo hộ, bốn chiếc mũ thỏ, mấy chiếc áo len, khoảng năm chục cân (khoảng 25kg) gạo Tứ Xuyên. Với từng đó đồ, Bố tôi xuất phát từ vùng núi nơi Ông đóng quân, bắt xe tải đến Đông Sơn, rồi lại từ Đông Sơn ngồi xe khách đường dài đến Thành Đô, sau đó ngồi tàu từ Thành Đô đến Bắc Kinh, rồi mới đi tàu từ Bắc Kinh về Cáp Nhĩ Tân.
Tốc độ tối đa của tàu khi đó chỉ có 80km trên giờ, còn thông thường cũng chỉ chạy chừng 60km mà thôi. Khi đó, Bố tôi đã phải mất đến 5 ngày 5 đêm để đi từ Tứ Xuyên về Cáp Nhĩ Tân. Là một công nhân xây dựng, tranh thủ kì nghỉ về thăm người thân, thì rõ ràng là không thể có điều kiện để mua vé giường nằm. Khi đó, cho dù là mua vé ngồi đi chăng nữa, nhưng do đi tàu đường dài nên việc có vé mà không được ngồi thì cũng không có gì lạ. Bởi vì, tàu khi đó thường xuyên chở quá khách, có khi chở quá tới gấp rưỡi lượng khách quy định, với cả nhà ga của một số thành phố cũng thông báo thẳng phớ ra là bán vé không chỗ ngồi.
Trước Tết luôn là cao điểm vận tải hành khách, có biết bao người vội vã về quê ăn Tết, nên việc mua được một tấm vé không chỗ ngồi đối với họ cũng đã là cả một sự may mắn. Cũng chính vì lẽ đó, mỗi khi tàu quá tải, người ta thường xuyên nghe thấy tiếng loa phát thanh vang lên, giọng đầy tính tuyên truyền: “Kính chào quý khách! Hiện tàu đang bị quá tải, nên quyết định hủy bỏ vé ngồi, mong quý khách hãy nêu cao tinh thần Xã hội Chủ nghĩa, nhường chỗ cho nhau. Nam nhường cho nữ, thanh niên nhường cho người già, người tàn tật và trẻ nhỏ, vân vân.”
Khi đó, Bố tôi không chỉ là một thanh niên, hơn nữa, Ông lại mặc trên người một bộ trang phục của giai cấp công nhân – giai cấp luôn được mọi người tôn kính, cho nên, trên suốt chặng đường Ông đã luôn nêu cao tinh thần Xã hội Chủ nghĩa. Hay nói cách khác, trong suốt năm ngày năm đêm trên tàu, tôi chắc một điều rằng Bố tôi chỉ đứng mà thôi.
Khi về đến nhà, hai chân Bố tôi sưng vù, ấy vậy mà Ông lại rất phấn khởi. Trong số hai mươi mấy chiếc màn thầu cứng như đá kia, thì có tới hơn một nửa đã in dấu răng của Bố tôi. Ba đôi giày bảo hộ lao động được làm từ da trâu đã thuộc, chiếc nào cũng bị mòn và rách, nhưng chiếc nào cũng được Bố tôi dùng các mảnh da vá đè lên, tất cả chúng đều được Bố tôi nhặt từ công trường để đem về cho ba anh em chúng tôi. Ba đôi giày bảo hộ, đôi nào cũng đã được Bố tôi vá đùm lại đối với ba anh em chúng tôi mà nói, việc chúng rộng thùng thình là điều khó tránh khỏi. Mấy đôi gang tay cũng là do Bố tôi nhặt được từ công trường, chiếc nào cũng đã được Ông vá lại. Mấy chiếc áo len cũng là do Bố tôi mới nhặt được, nhưng chúng rách tới mức không thể vá lại được như mấy đôi gang tay, giờ phải dùng phẩm nhuộm lại, rồi sau đó mới đan lại từng mũi. Có một chiếc cho Mẹ và một chiếc cho em gái tôi. Chỉ có bốn chiếc mũ thỏ đều là mới, chúng được Bố tôi mua tại một nhà ga nọ ở Tây Bắc, bốn anh em chúng tôi mỗi đứa được một chiếc. Cuối cùng, Bố tôi lấy từ trong chiếc bao bố ra một chiếc túi được làm từ da bò, bên trong là một chiếc bọc được bọc từ giấy gói bánh ga tô.
Bố đưa chiếc bọc giấy cho Mẹ và dặn: “Đây là trà, ở vùng Đông Bắc này hiếm lắm, hôm nào đem biếu hàng xóm mỗi nhà một ít, cất cẩn thận, đừng để bị ẩm.”
Năm 63 (1963), khi đó tôi đã 10 tuổi, vậy mà chưa từng được nhìn thấy trà bao giờ. Nhưng nhờ một lần đọc tiểu thuyết thì tôi cũng biết được rằng đấy là thứ đồ uống dùng để đãi khác của những nhà có điều kiện ở miền Nam.
Hai hôm sau, Bố và Mẹ đem trà chia ra làm 10 phần, mỗi phần lại dùng giấy đỏ gói gém lại cẩn thận. Giấy đỏ là do Mẹ bảo tôi đi mua, năm xu một tờ, Mẹ dặn mua hai tờ. Mẹ tôi vốn là định dùng giấy đỏ để cắt hoa giấy, nhưng Bố tôi lại kiên quyết muốn dùng giấy đỏ đó để gói trà, Ông nói rằng phải như vậy thì mới thể hiện được lòng thành của mình. Khi đó tôi ngồi bên cạnh cắt giấy, Mẹ tôi còn nói vài câu với vẻ dường như không hài lòng lắm. Mẹ đi với Bố, hai người đi gõ cửa từng nhà để biếu trà, lúc về trông mặt họ đều rất phấn khởi, khi đó tôi nghĩ rằng điều đó đã đủ để chứng minh khi nhận được trà hàng xóm đã vui như thế nào. Mồng 1 Tết, tụi trẻ cứ đi ra đi vào ngay cổng hợp viện. Chúng tôi ở tại một hợp viện khá lớn, và lớp trẻ thường đi chúc Tết trước.
Một thím hàng xóm tiện mồm hỏi tôi: “Ngoài trà ra thì Bố cháu có còn đem thứ gì về nữa không?”
Tôi đáp cũng buột mồm đáp ngay: “Còn có năm mươi cân (25kg) gạo nữa ạ!”
Tức thì, chú thím ấy nhìn nhau với một ánh mắt rất lạ. Họ là hàng xóm qua lại gần gũi nhất với nhà tôi.
Khi đó, tôi chỉ cảm thấy rằng ánh mắt chú thím ấy nhìn nhau thực rất lạ.
Tối mồng 2 Tết, cô con gái của chú thím ấy qua nhà tôi, đem theo gói trà còn nguyên chưa bóc đem trả. Cô bé đó nói:  “Bố cháu bảo, nhà cháu không ai thích uống trà, đồ tốt như vậy thì không nên phung phí.”
Với tôi khi đó mà nói, đấy là một việc rất đỗi bình thường, chẳng có gì lạ cả. Đối với một người Cáp Nhĩ Tân trong khoảng thời gian mấy năm cũng không được nhìn thấy trà lấy một lần mà nói, khách khứa không mời dùng bữa thì chia ra làm ba bậc, mỗi bậc lại theo lễ tiết tiếp đãi: một là mời nước trắng, hai là mời nước đường tinh, ba là mời nước đường phèn. Còn như đối với trà, thực ra về độ sang mà nói thì cũng chẳng quý hơn nước đường phèn là bao. Cho nên, nếu như họ không thích uống thì đem trả là một chuyện chẳng có gì làm lạ.
Cô bé nhà hàng xóm trở về, trên khuôn mặt cả Bố và Mẹ tôi đều hiện rõ vẻ khó xử.
Bố nói: “Hay mình đã làm gì không phải, khiến nhà bên đó phật ý nhỉ?”
Mẹ tôi cũng nói: “Trước nay vẫn qua lại rất tốt mà!” Nghĩ một lát, Mẹ hỏi tôi hôm mồng 1 đi chúc Tết có nói điều gì không nên không phải hay không. Tôi liền đem chuyện lúc được hỏi ở bên nhà hàng xóm kể rõ, mẹ tôi từ cảm giác khó hiểu dần chuyển sang cảm thấy có gì đó khó xử.
Bố tôi vỗ vỗ chán nói: “Tệ thật! Sao lại không nghĩ ra nên biếu thêm cho họ ít gạo cơ chứ!”
Năm 63 (1963), rất nhiều tỉnh thành của Trung Quốc đều xảy ra hạn hán, sản lượng lúa bị giảm sút nghiêm trọng. Do đó, toàn bộ thị dân trong thành phố Cáp Nhĩ Tân từ mỗi tháng được hai cân (1kg) gạo giảm xuống chỉ còn một cân (0.5kg). Ông bà ngoại nhà cô bé kia lại đều là người miền Nam, gạo của nhà cô bé vốn dĩ không thể cầm cự nổi được qua Tết.
Lúc này, Mẹ tôi cũng đã nghĩ đến điều đó mà lấy làm hối hận lắm, còn Bố tôi thì cũng đã đem túi gạo sẻ ra một cái chỉnh.
Mẹ tôi nhắc “được rồi đấy”, nhưng dường như Bố tôi vẫn còn lo chừng đó hơi ít. Lúc đó, Mẹ nói tiếp một câu khiến Bố đắn đo.
Mẹ nói: “Chỉ biếu một nhà, mà những nhà khác lại không biếu, như vậy có phải là đã phân biệt xa gần rồi hay không? Với cả, đây là họ đem trả lại trà trước, nếu chúng ta lại đem gạo qua biếu, hóa chẳng khiến đôi bên càng khó xử hay sao!”
Còn nếu như nhà nào cũng biếu, cho dù là mỗi nhà chỉ biếu hai ba cân (1 – 1.5kg), vậy thì chỗ gạo Bố đã phải vất vả cõng cả mấy ngàn cây số đem về chỉ còn lại có phân nửa thôi sao. Đừng nói là Mẹ tiếc như nào, đến Bố cũng cảm thấy tiếc đứt ruột, mà mấy anh em chúng tôi lại càng tiếc. Mặc dù chỗ gạo khi đó chỉ là gạo kho của Tứ Xuyên.
Cuối cùng, chỗ gạo kia cũng được giữ lại.
Còn về gói trà kia, về sau Mẹ tôi cũng đem biếu cho người khác.
Quan hệ của hai nhà chúng tôi không phải vì thế mà xảy ra mâu thuẫn, tuy nhiên, lớn bé hai nhà đều thấy trong lòng không thoải mái, chỉ là mọi người luôn cố gắng che giấu đi mà thôi.
Trước khi lên đường, Bố còn trách tôi: “Sao con lại nói ra câu đó làm gì cơ chứ?!”
Từ đó, tôi và Bố mỗi người một phương, cứ phải cách vài năm cả nhà lại mới được quây quần, chỉ có vẻn vẹn 2 tuần, hơn nữa thư từ qua lại cũng ít. Bởi Bố cũng chỉ biết có ít chữ, đấy là nhờ học được trong phong trào Bình dân học vụ, nếu như không nhờ người khác đọc, thì thư tôi gửi Bố sẽ không thể đọc hết được. Tuy nhiên, Bố lại luôn tự tay viết thư hồi âm, tuy chỉ có một trang giấy, mà Bố lại viết vừa to vừa nghệch ngoạc, khi thoảng lại sai chữ. Cũng chính vì thế, mỗi lần định viết thư cho Bố tôi đều thấy do dự.
Trước Tết năm 71 (1971), tôi từ binh đoàn trở về thăm nhà. Mùa đông năm đó không những lạnh mà tuyết rơi cũng rất lớn, Bố vốn cũng dự định về thăm nhà cùng đợt với tôi, nhưng cuối cùng lại không thành. Trong bức thư gửi về, Bố chỉ nói: “Do việc xây dựng quá gấp rút, nên không thể xin nghỉ được.”
Kể từ hồi xa nhau từ năm 1963, hai bố con chúng tôi đã 8 năm rồi không gặp nhau. Mà trong khoảng thời gian 8 năm đó, Mẹ tôi cũng đã già đi nhiều.
Mẹ nói với tôi, Bố từ Tứ Xuyên gửi về một cân trà (0.5kg), trong thư Bố nói rằng đã phải dùng 8 đồng để mua chỗ lộc trà đầu mùa đó. Bố muốn tôi trước Tết phải theo địa chỉ ghi trong thư đem biếu cho một người nọ.
Khi đó tôi đã 22 tuổi, nhưng vẫn chưa từng uống qua một ngụm trà! Bố tôi mỗi tháng nhiều nhất cũng chỉ gửi về nhà 40 đồng, còn về phía Ông cũng rất tiết kiệm, một miếng đậu phụ dành ăn ba ngày, đến vài xu mua thức ăn trong nhà ăn ông còn tiếc, vậy mà Ông lại bỏ ra 8 đồng để mua một cân trà (0.5kg), rồi lại từ xa xôi cả ngàn cây số gửi về để đem biếu người ta, tôi nghĩ hẳn là Bố đã phải nợ ân tình người ta nhiều lắm.
Hôm đó, anh cả bị liệt, Mẹ tôi cũng vì thời tiết mà bị viêm rất nặng, em ba cũng phải xuống làng, em bốn và em gái út cũng có việc quan trọng, thành thử chỉ có mình tôi đem cân trà kia đi biếu. Khi đó, một cân (0.5kg) trà Tứ Xuyên ở Cáp Nhĩ Tân quả thực là rất quý giá.
“Xóm cơ khí” nằm ở ngoại thành, cách nhà tôi hơn mười lăm cây, với cả hồi đó giao thông đi lại không thuận tiện, khi đó vẫn chưa có taxi. Do đó, trước tiên tôi phải bắt xe bus đến một trạm ở ngoại thành, sau đó lại xuống xe tiếp tục đi bộ. Do đoạn đường quốc lộ ấy tuyết vẫn còn phủ dày tới hơn một thước nên rất ít xe cộ qua lại, tôi đã phải đi bộ cả chục cây số, mỗi bước chân tôi đi qua đều in lại dấu chân trên tuyết, cuối cùng cũng đã đến được “xóm cơ khí”. Nhà ở khu đó tất cả đều được xây mái bằng và nhà tầng, bố trí trái phải hai dãy, khoảng cách giữa hai dãy cũng khá xa. Địa chỉ biếu trà mà Bố dặn trong thư chỉ ghi là kí túc xá công nhân bao nhiêu, dãy bao nhiêu và số bao nhiêu, mà như vậy thì đồng nghĩa với việc tôi không tìm thấy địa chỉ để biếu trà. Bởi vì “xóm cơ khí” khi đó do ba xưởng hợp lại. Mỗi một xưởng lại phân làm kí túc của cán bộ và kí túc của công nhân, cán bộ ở nhà  tầng, công nhân ở nhà bằng. Điều này thì Bố không có nói rõ, tôi đi loanh quanhg hơn một giờ đồng hồ để hỏi thăm, nhưng cũng không khả quan. Cuối cùng, tôi đứng thở giữa trời đông giá rét, trông từng căn nhà cao tầng, rồi lại trông từng dãy nhà mái bằng, chán nản vô cùng.
Tôi về đến nhà thì trời cũng đã tối, không chỉ có vậy, tôi còn để quên cân trà trên xe bus.
Mẹ nghe tôi nói không những chưa biếu được trà mà còn để mất, thì bà đơ người ra, giống như bị phép định thân của Tôn Ngộ Không vậy.
Phải một lúc lâu, Mẹ mới phản ứng lại, Bà hỏi một cách đầy lo lắng: “Giờ phải làm sao? Phải làm sao bây giờ? Mẹ nghĩ Bố con đã gặp phải chuyện rất khó khăn, nên mới vội vàng viết thư nhờ người giúp đỡ như vậy, nếu không ông ấy sẽ không bỏ ra 8 đồng mua cân trà để biếu người ta đâu. Con cũng biết tính bố con đấy, ông ấy không quen cầu cạnh người khác bao giờ! Giờ phải làm sao đây? Phải làm sao đây con? Ai viết thư nói rõ chuyện cho Bố con biết đây? Chúng ta không nên giấu ông ấy.
Tôi rất hiểu tính Bố, và cũng nghĩ giống Mẹ, đương nhiên, kẻ rõ đầu đuôi câu chuyện cho Bố biết mới là một việc đúng đắn.
Tôi nói với Mẹ một cách đầy áy náy: “Mẹ đừng quá lo lắng. Lo cũng không giải quyết được gì, để con viết thư kể rõ cho Bố biết.”
Cũng bởi để mất đi cân trà kia, nên Tết năm 1971 mọi người trong nhà đều cảm thấy không vui. Loại trà 8 đồng một cân của Tứ Xuyên kia chẳng qua cũng chỉ là trà, nhưng sự lo lắng kia mới là điều khiến mẹ con chúng tôi thấy không vui nổi. Rốt cuộc, Bố đã gặp phải chuyện gì mà khiến cho một người trước nay không cầu cạnh người khác phải đi tìm sự giúp đỡ?
Trở về liên đội tôi mới viết thư cho Bố. Trong thư, tôi kể rõ lại sự việc, thừa nhận chính mình để mất gói trà, tiếp đó lại viết tới một đoạn dài chỉ để kể lại việc mình đã phải vất vả như thế nào mà vẫn không tìm thấy được địa chỉ nhà người kia, tôi chỉ nghĩ rằng việc kể rõ nguyên nhân khách quan đó sẽ khiến Bố hiểu và thông cảm. Tiếp đó, tôi trách Bố đã quá sơ ý, bởi chính Bố đã không ghi rõ địa chỉ. Cuối cùng, tôi gắng hỏi xem rốt cuộc Bố đã gặp chuyện gì, phải chăng là nằm ngoài khả năng giải quyết của Bố, đến mức phải nhờ người khác giúp đỡ? Nếu như không phải việc quá lớn, vậy thì vẫn nên tự mình giải quyết thì hơn. Những lời lẽ đó, giọng điệu giống như là con đang lên lớp Bố vậy.
Năm 1971, cả một năm trời Bố không hồi âm. Tôi hiểu rằng mình đã làm tổn thương lòng tự tôn của Bố. Bố đã giận.
Chớp mắt một cái đã là mùa hè năm 73, tôi lại trở về thăm nhà. Hơn nữa, Bố cũng về thăm nhà cùng đợt với tôi. Tính đến năm đó, tôi đã xa nhà đến năm thứ năm, bấm ngón tay mà tính, thì cũng vừa tròn 10 năm Bố con tôi mới được gặp nhau.
Bố giờ đã bị hói. Trong ấn tượng của tôi, Bố là một người rất cường tráng, giờ bỗng trở nên gầy gò như vậy, nhưng hai mắt vẫn sáng quắc như có thần. Cũng chỉ có điểm đó, là đủ để nói rõ tính cách vừa quật cường vừa chính trực của một lão công nhân như Bố.
Đợt đó, Bố cũng đem về một cân trà loại ngon.
Bố muốn đích thân đem trà đi biếu một người mà Ông vẫn luôn gọi là “người tốt”. Nhưng địa chỉ mà Bố nói vẫn là địa chỉ của hai năm trước, cái địa chỉ đã khiến tôi phải vất vả vô ích.
Tôi góp ý, nếu như cứ theo địa chỉ kia để đi thì chỉ có tốn công vô ích, nhưng Bố vẫn cứ theo ý mình, tôi cũng chỉ biết đi cùng với Ông.
Trên suốt quãng đường, tôi và Bố không hề nhắc đến vụ cân trà mà hai năm trước tôi đã đánh mất. Tôi cũng không xin lỗi Bố về bức thư khi đó, bới vì, nếu nhắc đến chuyện bức thư thì cũng chính là gián tiếp nhắc đến vụ cân trà. Hơn nữa, Bố tôi không hề giải thích bất cứ điều gì, cũng không hề lên lớp tôi, dường như hai năm trước giữa hai bố con không từng xảy ra chuyện gì không vui.
Tôi và Bố đã phải tìm nhà “người tốt” kia rất lâu, nhưng rốt cuộc vẫn không tìm thấy. Hôm đó trời rất nóng, tôi và Bố đều rất sốt ruột, mồ hôi thấm đẫm lưng áo của cả hai bố con. Trên đường trở về, không chịu được, tôi đã trách mấy câu khiến Bố nổi giận, Ông đứng bên đường đùng đùng quát: “Tao là bố mày! Tao làm gì cũng có lí của tao! Mày không nói thì chết ai hả?!”
Tôi nổi khùng, lớn tiếng cãi: “Anh bị ốm, giờ con như con cả trong nhà, nếu có gặp chuyện gì thì Bố cũng không nên giấu con! Con cũng có quyền được biết!”
Bố vung tay lên, như muốn cho tôi một cái bạt tai.
Trong mấy ngày gia đình đoàn tụ, Bố giận tôi. Mãi đến tận trước hôm trở về Tứ Xuyên, Bố mới hơi nguôi nguôi. Lúc ra ga tiễn Bố, Ông vô duyên vô cớ nói với tôi một câu: “Đến lúc cần thiết, thì đương nhiên Bố sẽ cho con biết. Nhưng có lẽ cả đời này Bố cũng không nói cho con biết, cũng không nói cho Mẹ con biết, càng không nói cho các em con biết!”
Bố đem cân trà trở lại Tứ Xuyên, Ông sợ để ở nhà Mẹ tôi không cất cẩn thận, rồi lại để hỏng.
Những lời Bố nói, thực khiến tôi đi mà trong lòng luôn canh cánh không yên.
Trước tết năm 1977, tôi từ Bắc Kinh trở về Cáp Nhĩ Tân. Khi đó, tôi đã là một biên tập viên của xưởng chế tác phim điện ảnh Bắc Kinh, Bố tôi cũng đã về hưu. Bố tôi mãi tận năm 63 tuổi mới về hưu, cũng bởi gia cảnh khó khăn, nên đơn vị cho phép Bố về hưu muộn 3 năm.
Sau một đêm đổ tuyết, Bố gọi tôi cùng Ông một lần nữa đem cân trà mua từ Tứ Xuyên kia đi biếu người mà Ông vẫn gọi là “người tốt”. Cân trà kia, lần đầu tiên khi đem từ Tứ Xuyên về Cáp Nhĩ Tân thì hãy còn là màu xanh, bây giờ Bố đem về thì đã ngã sang màu nâu. Bố không muốn lần nào cũng phải mất công mua, nên đã nhờ công nhân trong xưởng trà ở Tứ Xuyên đem sấy khô, để dễ dàng bảo quản.
Tôi nhắc Bố: “Nếu như vẫn là địa chỉ cũ, thì không đi là hơn. Rõ ràng là không tìm thấy thì có đi cũng chỉ mất công, vậy thì phải đi làm gì!”
Bố tôi lặng đi một lúc rồi nói: “Có địa chỉ mới rồi. Địa chỉ bây giờ hoàn toàn chính xác, hôm nay nhất định sẽ tìm thấy.”
Trên đường đi, Bố kể với tôi, khi Cách mạng văn hóa nổ ra không lâu, một lão công nhân xây dựng như Ông vốn đã nhiều lần được tặng giấy khen, nhưng không biết rốt cuộc lại bị ai đó viết đơn tố cáo Ông là một tên đặc vụ Hán gian. Bởi vì Bố biết nói mấy câu tiếng Nhật, trong hồ sơ án lại ghi rõ Ông đã từng làm cho một tiệm thuốc của Nhật, cho nên người ta mới tin Ông là đặc vụ Hán gian mà không hề nghi ngờ gì.
Bố kể: “Bọn họ trói ngược hai cánh tay Ông lại mà tra tấn, họ không chỉ ép Ông phải thừa nhận mình là đặc vụ Hán gian, lại còn ép Ông khai ra những tên Hán gian khác, giống như là năm xưa bọn lính Nhật tra tấn những người Trung Quốc kháng Nhật vậy. Nhưng Ông trước sau như một, nếu như là chuyện vu cáo hãm hại Ông, thì có đánh chết Ông cũng không nhận…”
Bố kể lại một cách rất bình tĩnh, nhưng tôi nghe mà rùng mình khiếp vía. Đấy quả thực là chuyện mà tôi chưa bao giờ nghĩ đến.
Tôi nghẹn ngào: “Bố, thực ra khi đó Bố có nhận thì cũng không sao mà. Hảo hán không chịu thiệt trước mắt!”
Bố nói: “Không được! Nếu như Bố nhận rồi, thì năm 1974 sao con có thể vào đại học! Nếu như Bố nhận rồi, cả nhà chúng ta chẳng phải chớp mắt là biến từ  gia đình “hồng ngũ” sang gia đình “hắc ngũ” hay sao?  Các con có thể chịu nổi sự kì thị trong những ngày tháng sau này không? Nếu như Bố nhận rồi, tiếp đó họ ép khai ra đồng bọn, vậy thì phải làm như nào? Cho nên khi đó Bố chỉ có hạ quyết tâm, nếu như là chuyện nhằm vu cáo hãm hại, thì cho dù là đánh chết Bố cũng không nhận.”
Những lời của Bố khiến nước mắt tôi cứa trào ra.
Lần này, tôi và Bố không đi đến “xóm cơ khí”, Bố dẫn tôi đến một nghĩa trang ở ngoại thành. Trên cột bia bằng gỗ có khắc họ tên của” người tốt” mà Bố vẫn thường kể. Bố nói: “Chính là ông ấy, ông ấy là một người Sơn Đông. Ông ấy cũng chính là người mà sau khi Bố đến Sơn Đông đã che chở cho Bố rất nhiều. Năm đó, cũng chính ông ấy đã giới thiệu cho Bố đến làm tại một tiệm thuốc rất lớn của Nhật, rồi cũng chính Bố cũng thường xuyên kể lại tình hình người Nhật đến mua thuốc tại tiệm cho ông ấy. Khi đó, Bố đã đoán ra được ông ấy kháng Nhật, sau khi giải phóng ông ấy được làm Huyện đội trưởng. Trong thời gian diễn ra Cách mạng văn hóa, bọn phản động ở Tứ Xuyên đến Cáp Nhĩ Tân điều tra ông ấy, chỉ mong chứng minh Bố đúng là đặc vụ Hán gian. Khi đó, ông ấy cũng đã bị nhốt vào cũi, nhưng ông đã đấu tranh với bọn họ tới cùng. Ông ấy tuyên bố: “Chúng mày đừng có mơ mà kiếm được gì từ chỗ tao! Đừng hòng!” Cho nên, bọn phản động kia mới không có cách nào kết tội Bố, chúng đành phải kết thúc thẩm tra, vậy nên con mới thuận lợi thi lên đại học, gia đình ta cũng mới tránh khỏi mang tiếng là gia đình “ngũ hắc”. Kì thực, Bố cũng không biết ông ấy không có thói quen uống trà, nhưng dù sao thì Bố cũng phải thể hiện tấm lòng của mình! Ngoài trà ra, Bố cũng chẳng có thứ gì đáng giá khác đem từ Tứ Xuyên trở về để biếu ông ấy.
Gói trà mà Bố đem đi đem về từ Tứ Xuyên kia, đến lúc về hưu Ông vẫn đem theo về, ngoài ra còn có một bình rượu trắng, Bố tôi cung kính đặt gói trà và bình rượu ngay trước nấm mồ.
Tôi nói: “Bố đặt ở ấy, thế nào cũng sẽ bị người ta lấy mất.”
Không làm chủ chính mình, tôi quỳ xuống.
Tôi đem rượu tưới lên gói trà, và đốt. Tôi và Bố rất giống nhau, không chỉ không thích uống rượu, mà ngay cả trà cũng không thích.
Bố tôi cũng đã mất cách đây mười mấy năm.
Giờ đây, trà đã trở thành món quà gặp mặt phổ biến ở Trung Quốc, hơn nữa, đóng gói cũng ngày càng đẹp, thậm chí là xa hoa một cách không cần thiết. Giờ, tôi thường nhớ đến Bố tôi và trà, nhớ đến câu chuyện về gia đình tôi và trà.

Xiada, Caiqingjie phòng 514, ngày 27 tháng 5 năm 2017
Văn: Lương Hiểu Thanh梁晓声 (Trung Quốc)
Duy phong (Lê Đình Sơn) dịch

Thứ Tư, 24 tháng 5, 2017

Biến hoa khí chất của Trương Tái

1.     Phiên âm:
Biến hóa khí chất. Mạnh Tử viết: “Cư di khí, dưỡng di thể”. Huống cư thiên hạ chi quảng cư hồ? Cư nhân do nghĩa, tự nhiên tâm hòa nhi thể chính. Cánh yếu ước thời, đãn phất khử cựu nhật sở vi, sử động tác giai trúng lễ, tắc khí chất tự nhiên hoàn hảo. Lễ viết: “Tâm quảng thể bàng”. Tâm ký hoành đại, tắc tự nhiên thư thái nhi lạc dã. Nhược tâm đãn hoành đại, bất cẩn kính, tắc bất lập; nhược đãn năng cẩn kính, nhi tâm bất hoành đại, tắc nhập vu ải, tu khoan nhi kính. Đại để hữu chư trung giả tất hình chư ngoại, cố quân tử hòa tắc khí hòa, tâm chính tắc khí chính. Kì thủy dã, cố diệc tu căng trì. Cổ chi vi quan giả dĩ trọng kì thủ, vi lí giả dĩ trọng kì túc, chí vu minh, vu, kỷ, trượng vi minh, giai sở dĩ thận giới chi.
Dục sự lập, tu thị tâm lập. Lập tâm bất khâm tắc đãi trụy, sự vô do lập. Bất tri nghi giả, chỉ thị bất tiện thực tác, ký thực tác, tắc tu hữu nghi. “Xích oách chi khuất, dĩ cầu thân dã; long xà chi chập, dĩ tồn thân dã; tinh nghĩa nhập thần, dĩ trí dụng dã; lợi dụng an thân, dĩ sùng đức dã”. Thử giao tương dưỡng chi đạo. Phù, khuất giả sở dĩ cầu thân giả, cần học sở dĩ tu thân dã, bác văn sở dĩ sùng đức dã, duy bác văn tắc khả dĩ lực trí. Nhân bình cư hựu bất khả dĩ toàn vô tư lự, tu thị khảo tiền ngôn vãng hành, quan tích nhân chế tiết, như thử dĩ hành kì sự nhi dĩ. Cố động yên nhi vô bất trúng lý.
Học quý tâm ngộ, thủ cựu vô công. Vi học đại ích, tại tự năng biến hóa khí chất. Bất nhĩ, tốt vô sở phát minh, bất đắc kiến thánh nhân chi áo. Cố học giả tiên tu biến hóa khí chất, biến hóa khí chất dữ hư tâm tương biểu lý.
Học bất năng suy cứu sự lý, chỉ thị tâm thô. Độc thư thiểu, tắc vô do khảo hiệu đắc nghĩa tinh. Cái, độc thư dĩ duy trì thử tâm, nhất thời phóng hạ, tắc nhất thời đức tính hữu giải. Độc thư, tắc thử tâm thường tại; bất độc thư, tắc chung khan nghĩa lý. Bất kiến thư tu thành dũng, tinh tư đa tại dạ trung hoặc tĩnh tọa đắc chi, bất ký tắc tư bất khởi. Đãn thông quán đắc đại nguyên hậu, thư diệc dị kí. Sở dĩ quan thư giả, thích kỉ chi nghi, minh kỉ chi vị đạt. Mỗi kiến mỗi tri sở ích, tắc học tiến hĩ; vu bất nghi xứ hữu nghi, phương thị tiến hĩ.
Mỗ quan Trung dung nghĩa nhị thập niên, mỗi độc mỗi hữu nghĩa, dĩ trưởng đắc nhất cách. Lục kinh tuần hoàn, niên dục nhất quan. Quan thư dĩ tĩnh vi tâm. Đãn chỉ thị vật bất nhập tâm, nhiên nhân khởi năng trường tĩnh? Tu dĩ chế kì loạn. Đa thư duyệt nhi hiếu vong giả, chỉ vị lí vị tinh nhĩ. Lí tinh, tắc tu kí liễu vô khử xứ giả.
Hí ngược, trực đại vô ích, xuất vu vô kính tâm. Hí ngược bất dĩ, bất duy hại sự, chí diệc vi khí sở lưu. Bất hí ngược, diệc thị trì khí chi nhất đoan.
Chính tâm chi thủy, đương dĩ kỉ tâm vi nghiêm sư. Phàm sở động tác, tắc tri sở cụ, như thử nhất nhị niên gian, thủ đắc lao cố, tắc tự nhiên tâm chính hĩ.
Kim nhân vi học, như đăng sơn [?], phương kì dĩ lệ chi thời, mạc bất khoát bộ đại tẩu, cập đáo tuấn tiễu chi xứ, tiện chỉ, tu thị yêuu cương quyết quả cảm dĩ tiến.
Tâm thanh thời thường thiểu, loạn thời thường đa, kì thanh thời, tắc thị minh, thính thông, tứ chi bất đãi ki thúc, nhi tự nhiên cung cẩn, kì loạn thời phản thị. Như thử giả hà dã? Cái, dụng tâm vị thục, khách lự đa nhi thường tâm thiểu dã, tập tục chi tâm vị khử nhi thực tâm vị toàn dã. Hữu thời như thất giả, chỉ vị tâm sinh, nhược thục hậu bất tự nhiên. Tâm bất khả lao, đương tồn kì đại giả, tồn chi thục hậu, tiểu giả khả lược.
Học giả bất luận thiên tư mĩ ố, diệc bất chuyên tại cần khổ, đãn quan kì xu hướng trứ tâm xử như hà.
Nghĩa lí hữu nghi, tắc trạc khử cựu kiến, dĩ lai tân ý. Tâm trung cẩu hữu sở khai, tức tiện trát kí. Bất tư, tắc hoàn tắc chi hĩ. Cánh tu đắc bằng hữu chi trợ. Tại khả nghi nhi bất nghi giả, bất tằng học, học tắc tu nghi. Thí chi hành đạo giả, tương chi Nam Sơn, tu vấn đạo lộ chi xuất. Tự nhược an tọa, tắc hà thường hữu nghi.
Học giả chỉ thị vu nghĩa lí trung cầu. “Thí như nông phu, thị tiêu thị cổn, tuy hữu cơ cận, tất hữu phong niên”. Cái, cầu chi tắc tu hữu sở đắc.
Học giả đại bất nghi chí tiểu khí khinh. Chí tiểu tắc dị túc, dị túc tắc vô do tiến. Khí khinh tắc hư nhi vô doanh, ước nhi vi thái, vong nhi vi hữu, dĩ lai tri vi dĩ tri, vị học vi dĩ học. Nhân chi hữu sỉ vu tựu học, tiện vị ngã hảo, thắng vu nhân, chỉ thị bệnh tại bất tri cầu thị vi tâm. Cố học giả đương vô ngã.
2.     Dịch nghĩa:
Làm thay đổi khí chất. Mạnh Tử nói rằng: “nơi ở có thể làm thay đổi khí chất, nuôi dưỡng có thể làm thay đổi thể trạng[1]”. Huống chi sống trong thiên hạ rộng lớn! Dựa vào đức nhân, noi theo điều nghĩa thì tự nhiên tâm hòa, mà thể chính. Nếu khí chất còn bị hạn chế, thì chỉ cần rũ bỏ những việc làm trước đó, khiến cho mọi hành động đều hợp với lễ, thì khí chất sẽ tự nhiên tốt đẹp một cách trọn vẹn. Kinh Lễ có nói rằng: Tâm rộng rãi, [thân] thể sẽ [tự nhiên] an nhiên thư thái[2]. Tâm đã rộng lớn thì [thân thể] sẽ tự nhiên thoải mái mà vui vẻ. Nếu tâm đã rộng lớn, nhưng lại không kính cẩn, thì cũng sẽ không thể trụ vững được; nếu đã có thể kính cẩn, mà tâm lại không rộng lớn, thì lại [dễ] rơi vào chỗ hẹp hòi; nên [cần phải] vừa rộng rãi mà vừa kính cẩn. Đại để là bên trong như thế nào thì sẽ thẻ hiện ra bên ngoài như thế ấy, cho nên bậc quân tử hòa thì khí hòa, tâm chính thì khí chính. Lúc mới bắt đầu thì càng nên gìn giữ [điều đó] một cách nghiêm ngặt. Người xưa làm ra mũ là vì quý trọng cái đầu, làm ra giầy là vì quý trọng đôi chân, đến như làm các bài minh văn trên mâm, chén, bàn, ghế là để răn rè, cẩn trọng vậy.
Muốn sự thành thì trước hết phải khiến cho tâm được lập. Lập tâm mà không kính cẩn thì sẽ hỏng nát, sự cũng vì thế mà không được lập.
Người mà không biết nghi hoặc chỉ vì chưa thực sự làm, bởi nếu đã thực sự làm thì sẽ có nghi hoặc. Con sâu nó co lại, là vì mong sự duỗi ra; rồng và giao long ẩn mình, là vì mong giữ gìn tấm thân; hiểu được hết mức nghĩa lí là để dùng nó hết mực, dùng một cách nhanh nhạy để an thân, là để tôn sùng đức tính vậy. Đấy là cái đạo nuôi dưỡng lẫn nhau. Ôi! Cái sự co lại là để mong cầu duỗi ra, chăm chỉ học hành là nhằm để tu thân, nghe rộng là để tôn sùng đức tính, duy chỉ có bác văn là có thể hết sức mình. Lúc sinh hoạt hằng ngày thì chẳng thể không lo nghĩ, nên [khi] xem xét lới nói và hành động của người xưa, [thì cũng cần] xem sự hạn chế của người xưa, như vậy cũng chỉ là để thực hành sự tu dưỡng của mình mà thôi. Cho nên, hành động ở đấy thì không có gì là không hợp với lí lẽ.
Học thì quý sự khai mở ở tâm, nếu cứ khư khư giữ lấy cái cũ thì sẽ chẳng có kết quả gì. Ích lợi to nhất của việc học là ở chỗ có thể tự làm thay đổi khí chất. Nếu chẳng được như vậy, thì suốt đời cũng chẳng thể mở mang ra được, cũng chẳng thể thấy được cái chỗ uẩn diệu của thánh nhân. Cho nên người theo học trước tiên nên làm thay đổi khí chất, thay đổi khí chất có quan hệ trong ngoài với hư tâm.
Học mà không thể suy cùng được sự lí chính là bởi tâm thô, đọc sách ít thì không có chỗ dựa vào để khảo xét sự sâu sắc của nghĩa lí. Có lẽ sách là để duy trì cái tâm đấy, buông ra một lúc thì cũng có nghĩa là đức tính nhất thời bị trễ nãi. Đọc sách thì tâm này luôn thường tại, không đọc sách thì cũng là kết thúc việc xem nghĩa lí. Khi không đọc sách thì nên thành tựu lại những chỗ mà sách đã phát ra, những suy nghĩ sâu sắc thường nhiều vào lúc nửa đêm hoặc là lúc ngồi yên tĩnh, không ghi nhớ được thì suy nghĩ cũng không được phát ra. Nếu đã thông suốt được đại cương thì đọc sách cũng trở nên dễ nhớ. Cho nên, việc xem sách là để tháo gỡ được chỗ nghi hoặc, làm sáng tỏ được chỗ chưa thông đạt. Mỗi lần xem sách là mỗi lần tăng trưởng về tri thức, thì đối với việc học sẽ tiến bộ; gặp chỗ không đáng nghi mà lại nghi hoặc, như vậy thì mới càng tiến bộ cho việc học vậy.
Ta xem nghĩa lí sách Trung dung suốt hai chục năm nay, mỗi lần xem là mỗi lần nảy được thêm nghĩa mới, [như vậy coi như] cũng đã trưởng thành được thêm một bậc nhận thức. Lục kinh thừa tiếp, mỗi năm lại muốn xem thêm một lượt. Xem sách thì lấy tâm làm tĩnh. Nhưng mà vật không nhập tâm, thì sao tĩnh tâm được lâu dài? Nên dùng để chế ngự cái loạn của tâm. Người xem sách nhiều mà lại hay quên thì chỉ là do chưa tinh thông nghĩa lí. Khi đã tinh thông nghĩa lí thì tự nhiên sẽ ghi nhớ được mà không bỏ sót đi chỗ nào.
Sự đùa cợt thật là vô ích, nó xuất phát từ chỗ tâm không kính cẩn. Đùa cợt không ngừng, chẳng những hại việc, mà chí cũng bị khí cuốn trôi đi mất. Không đùa cợt, chính là để giữ lấy đầu mối của khí. Lúc mới bắt đầu chính tâm, nên coi tâm mình là người thầy nghiêm. Phàm là những động tác mà biết được chỗ lo sợ, cứ như vậy trong khoảng một đến hai năm, giữ được vững vàng thì tự nhiên tâm sẽ chính.
Người học đời nay cũng giống như việc leo núi, lúc mới đến sườn núi quanh co thì không ai không rảo bước cho nhanh; nhưng đến chỗ vách đá cheo leo, [cũng không nên] dừng lại mà nên cương quyết, quả cảm mà tiến lên.
Lúc tâm thanh tĩnh thì ít, mà lúc tâm bị loạn thì nhiều, lúc tâm thanh tĩnh thì nhìn được sáng rõ, mà nghe được thông suốt, tứ thể không đợi bó buộc mà tự nhiên kính cẩn, lúc tâm loạn thì ngược lại. Như vậy là thế nào? Có lẽ là dụng tâm chưa được thành thục, suy nghĩ viễn vông thì nhiều mà thường tâm thì lại ít, tâm  theo thói đời chưa bỏ hết được, mà cái thực tâm thì lại chưa đầy đủ. Có lúc thì như là bị mất, chỉ là do tâm sinh, nếu tâm thuần thục thì về sau sẽ không bị như vậy nữa. Tâm không nên quá mệt mỏi, chỉ nên giữ lại những điều to lớn, điều gì đã thuần thục thì có thể bỏ đi những chỗ nhỏ nhặt.
Người học bất kể là thiên tư đẹp hay xấu, cũng không chuyên chú ở sự chuyên cần, chỉ là xem chỗ tâm thể hiện rõ xu hướng của người đó mà thôi.
Nghĩa lí có sự nghi ngờ thì tâm nên bỏ những cách nhìn cũ để mà đến được với ý mới. Nếu trong lòng có được sự khai mở thì nên lập tức ghi chép lại. Nếu không đào sâu suy nghĩ thì những điều đó lại sẽ bị che lấp lại. Càng nên có sự trợ giúp của bạn bè. Ở những chỗ đáng nghi hoặc mà không nghi hoặc, đấy là vì chưa từng học qua, nếu đã từng học thì ắt sẽ có sự nghi hoặc. Ví như người đi đường, muốn đi đến Nam Sơn thì nên hỏi đường lúc xuất phát. Nếu như cứ ngồi yên thì sao có sự nghi hoặc.
Người học chỉ truy cầu ở nghĩa lí. Ví như người nông dân, phải bỏ công cày cuốc, tuy rằng có năm mất mùa, nhưng cũng có năm được mùa. Có lẽ là cái điều đã theo đuổi thì sẽ có được thu nhận.
Người học rất không nên chí khí nhỏ hẹp. Chí nhỏ thì dễ thỏa mãn, dễ thỏa mãn thì không dựa vào đâu để tiến lên được. Khí nhẹ thì trống rỗng mà lại cho là đầy đủ, ràng buộc mà lại cho là thông thái, mất mà lại cho là có, những điều chưa biết mà lại cho là đã biết, chưa học mà lại cho là đã học rồi. Người mà cảm thấy xấu hổ vì việc học, lại cho rằng mình là tốt, là hơn người, chỉ là ở chỗ không biết lấy cầu thị[3] làm tâm. Cho nên người học nên vô ngã.
3.     Giảng giải nghĩa lí:
Biến hóa khí chất” là học thuyết được đề xuất bởi Trương Tái[4], đây là học thuyết có ảnh hưởng sâu sắc đến Lý học Tống Nho và học thuyết Nho giáo các giai đoạn về sau. Thế nhưng phạm trù “dưỡng khí” lại là một phạm trù quan trọng đã được Mạnh Tử đề xuất. Lí luận này cũng được Trình Y Xuyên hết sức coi trọng, Ông cho rằng Mạnh Tử có công lớn nhất đới với người học đời sau là ở chỗ đề xuất ra thuyết “dưỡng khí”. Về sau Nhị Trình (Trình Di và Trình Hạo) đã phát huy một cách triệt để thuyết này, mà người theo Nho học về sau cũng dốc lòng theo đuổi và phát huy nghĩa lí của “dưỡng khí” và “biến hóa khí chất”. Bởi từ “dưỡng khí” và “biến hóa khí chất” có quan hệ đặc biệt hữu cơ với nhau. Thuyết này được xác lập dựa trên hình, khí, thần, cũng dựa trên sự tác động qua lại lẫn nhau. Khí là những gì thuộc về tiên thiên, sinh ra đã có, bởi con người tiếp thu được âm dương nhị khí giao hòa mà thành ra hình hài. Khí thì vô hình, nhưng khi hợp vào với tính của con người thì hiện ra nơi hành động của con người. Khí mà con người bẩm thụ được thì có thanh trọc, cương nhu, dày mỏng; con người đắc được loại nào mà phát triển theo các hướng khác nhau. Cho nên con người sinh ra có người có tư chất thông minh, có người ngu kẻ dại, người mạnh kẻ yếu, có người hiền và kẻ bất tiếu. Như về sau Trình Y Xuyên có nói “tính thì vốn xuất phát từ trời, mà tài năng thì là do bẩm thụ được từ khí”. Tính ở đây là trỏ nghĩa lí, cội nguồn; khí chất tuân theo tính, tính lại theo khí chất mà quan hệ lẫn nhau. Cho nên biến hóa khí chất cũng chính là làm thay đổi đức tính, làm cho đức tính tiến xa hơn trên con đường đức hạnh.
“Biến hóa khí chất”, tức là tự làm thay đổi khí chất của mình theo chiều hướng tốt đẹp. Con người thu nhận khí của trời đất để làm khí sinh trưởng cho mình, khí của người cũng là khí của trời đất. Khí của trời đất thì bao la vô cùng mà không bao giờ hết, khí của người thì chỉ là một phần nhỏ bé trong khí của trời đất. Mở đầu đoạn luận, tác giả lấy một câu trong sách Mạnh tử để dẫn dắt người đọc vào với vấn đề, “cư di khí, dưỡng di thể” ấy là cái lẽ cố nhiên, nó là cái lí không chỉ tồn tại ở người mà tồn tại chung cho muôn vật. Ví như cây cối trồng nơi đất màu mỡ thì tươi tốt, khỏe mạnh, ít sâu bệnh.
Vậy tại sao biến hóa khí chất lại quan trọng? Đấy là vì việc biến hóa khí chất và con đường trở thành thánh nhân có liên quan với nhau. Cho nên người theo học nên đặc biệt dụng tâm vào để tự mình có thể làm biến hóa khí chất của mình. Nhưng mà vì việc “làm thay đổi khí chất” là một việc rất khó khăn, không phải ai cũng có thể thực hiện được.
Khí tồn tại ở mỗi vật là giống nhau, song “chất” thì lại là ngưng tụ một cách khác biệt cho nên tạo ra muôn vật không giống nhau. Phàm là vật thì đều có sự tụ lại của khí mà thành. Cho nên đã là vật thì ắt là có “khí chất”, cây cỏ cũng có khí chất, nhưng là khí chất của cây cỏ; trâu bò cũng có khí chất, nhưng là khí chất của trâu bò; con người cũng có khí chất, đấy là khí chất tốt đẹp nhất của ngũ hành, của nhị khí âm dương. Trương Tái đi sâu vào thảo luận cái tính của khí chất, ông cho rằng trời đất muôn vật là do khí tập hợp mà thành, đây cũng là nghĩa lí được hiểu từ cuối thời nhà Chu, nay được Trương Tái hiểu theo cách mới dựa theo Kinh Dịch. Căn cứ vào thuyết vũ trụ bản thể luận, giải thích tất thảy đều tồn tại sự hình thành và biến hóa của khí. Khí tụ thì thành vật, tán lại hóa thành khí. Khí tụ thì thành vật, tức là có khí chất, khí chất thì có kết cấu đặc thù, từ cây cỏ, chim muông, cho đến con người thì là không giống nhau. Thực vật, động vật bất đồng là do vật loại bất đồng; con người bất đồng là do cá thể bất đồng. Đơn giản mà nói thì “khí chất” đại biểu cho tính khác biệt của lí, là cái ngăn cách, chế định nguồn lí của tính.
Khí thì không thể không ngưng tụ lại để mà thành vật”, do vậy mà có “khí chất”, đây cũng là một khái niệm quan trọng về khái niệm thế nào là “khí”. “Khí chất” lại do hai phạm trù “khí” và “chất” tạo thành. Trương Tái còn nói: "tri hư không tức khí, tắc hữu vô, ẩn hiển, thần hóa, tính mệnh thông nhất vô nhị. Cố tụ tán, xuất nhập, hình bất hình, năng suy bản sở vật tòng lai, tắc thâm ư Dịch giả dã”.
Đoạn luận về “biến hóa khí chất” có thể phân ra làm các phần như sau. Phần đầu là nói về mối quan hệ giữa nơi ở với sự biến đổi của khí, sự chăm dưỡng đối với thể trạng. Từ đó suy rộng ra đến vấn đề “thể chính”, “tâm hòa” có liên quan đến sự kính cẩn và bao la rộng lớn của tâm. Phần hai là nói lên sự chuẩn bị cho việc mở rộng nghĩa lí, bắt nguồn từ chỗ tôn sùng đức tính, học hỏi người xưa.
Cái học của bậc quân tử là lắng nghe những nghĩa lí để làm rõ cho tâm mình. Tâm đã sáng tỏ nghĩa lí thì thể hiện ra nơi tay chân, hình ra qua các động động và tĩnh lặng. Đầu mối là ở lời nói mà thuần thục ở hành động, việc làm có thể trở thành phép tắc cho thiên hạ, lời nói có thể làm tiêu chuẩn cho thiên hạ. Làm đẹp thêm cho thân mình bằng viêc học. Cái học của bậc quân tử là cái học “vị kỉ”, tức là học là nhằm hoàn thiện cho đức tính, không cầu ở bên ngoài. Còn cái học của người đời nay chỉ hòng sao cho vụ lợi là hơn cả. Cho nên cái thực học của người xưa dần bị mai một là vì vậy.
Đoạn này có ý lấy việc học là quan trọng nhất để làm thay đổi khí chất. Biến hóa khí chất lại có hai cách thức, đấy là đưa tâm ta vào quy phạm của lễ thì mọi động tác cũng sẽ hợp với lễ, và cái quan hệ của biến hóa khí chất và hư tâm chỉ là quan hệ trong ngoài. Biến hóa khí chất và hư tâm tính thực ra thì cũng chỉ là một, mà phân ra làm hai mặt mà thôi. Theo Trương Hoành Cừ tiên sinh thì cái gọi là “khí chất” chính là “tính khí chất”của con người. Giống như việc nước lửa có khí nhưng lại không sinh, cây cỏ có khí nhưng khí đó lại bất tri; con người thì có đủ khí, sinh, tri, và cả nghĩa.
Cái điểm kết thúc của “biến hóa khí chất” là ở chỗ nào? Trong văn bản có nói “biến hóa khí chất dữ hư tâm tương biểu lí”, hay nói cách khác, hư tâm là đến đâu thì “biến hóa khí chất” cũng đến đấy. Nhưng “hư tâm” thì lại không có chỗ dừng, bởi “” là thuộc tính của vật thể, cho nên “biến hóa khí chất” cũng đến chỗ thuộc tính của vật. Mà khi đạt đến “tri tính” tức là bậc thánh nhân.
Làm thế nào để tâm chính được, đấy là ở chữ “kính”. “Kính” là cái đạo để duy trì bản tâm, chữ “kính” tuy không được xếp vào vị trí tối cao, song vai trò của nó thì vô cùng. Tất thảy mọi việc thành bại đều có căn cơ xuất phát từ chữ “kính”. “Kính” là công phu để tu thân, tu tâm, không có “kính” thì việc gì cũng hỏng.
Bởi vì con người ta bẩm được khí thanh trọc khác nhau cho nên “thành” cũng khác nhau. Người đắc được khí thanh thì không gì là không thiện; người đắc phải khí trọc thì lại không có gì là thiện, có chỗ bất thiện bởi thế cho nên mới cần phải tập luyện. Nếu lấy thanh trọc để phân thiện ác, như vậy thì thật là không được cho lắm. Lẽ nào cứ mặc kệ mà có thể thành thiện được.
Muốn “biến hóa khí chất” thì thì trước hết phải “lập tâm”, “bác văn”, “lực trí”; mà “lập tâm” thì chủ ở “kính”, “bác văn” chủ ở sự “học”, “lực trí” chủ ở “hành”. “Biến hóa khí chất” là công phu tự thân, mà các điều “lập tâm”, “bác văn”, “lực trí” chỉ là những công cụ trợ giúp. Cho nên, muốn thay đổi khí chất thì trước hết phải tự ở bản thân chứ không phải là cầu ở bên ngoài, và không cầu ở người.
Đi sâu vào từng phương pháp để có thể tự “biến hóa khí chất”, Trương Tái lần lượt đưa ra và giải thích các phương pháp để người học có thể tự mình thực hiện. Bước đầu là phải “lập tâm”, “lập tâm” thì chủ ở “kính”, nhưng chỉ “kính” thôi thì chưa đủ, “lập tâm” là phải kết hợp giữa tâm rộng rãi và kính cẩn. Nếu không được cả hai yếu tố này thì sẽ không lập được tâm, kính mà không rộng rãi thì cũng sẽ rơi vào sự hẹp hòi. Con người ta giữa nội tâm và hành động luôn có một mối quan hệ khăng khít, bởi thế cho nên Ông mới nói rằng “hữu ư trung giả, tất hình chư ngoại” (bên trong có như thế nào, thì sẽ thể hiện ra bên ngoài như thế ấy). Và rồi nếu “tâm hòa thì khí sẽ hòa”, “tâm chính thì khí sẽ chính”. Phải quý trọng và nghĩ ra cách giữ gìn nó giống như việc “người xưa làm ra mũ là vì quý trọng đầu, làm ra giầy là vì quý trọng đôi chân, và làm ra các bài minh văn là vì răn rè cẩn trọng ở những chỗ thận độc”. Ông còn đưa ra cách làm việc một cách “biện chứng”, đấy là phải nghi ngờ, hay nói cách khác đấy là “luôn đặt ra câu hỏi”, “vấn đề” trong cuộc sống cũng như khi làm việc.
Tiếp theo, sau “lập tâm” là phải nâng cao học vấn bằng cách “bác văn”. “Bác văn” lại chủ ở học rộng bằng cách đọc sách và nghe nhiều. Theo Ông, học thì lại cốt ở việc “khai mở ở tâm”, và “tìm ra cái mới”, “bỏ những điều rườm rà, nhỏ nhặt không cần thiết”. Đọc sách thì cốt yếu là nắm được chỗ tinh yếu của sách, như vậy mới có thể dễ nhớ, mà không bỏ sót đi chi tiết nào. Đọc và nhớ được nhiều thì là quan trọng, nhưng nếu chỉ dừng lại ở đấy thôi thì người học cũng chẳng khác gì cỗ máy ghi nhớ. Điều quan trọng hơn là phải phát huy được nghĩa lí của sách, phát triển được những khả năng suy xét qua mỗi thời điểm khác nhau của cùng một vấn đề. Cho nên Ông mới nói: “mỗi độc mỗi hữu nghĩa” (mỗi lần xem là mỗi lần thu nhận được những nghĩa lí khác nhau), chỉ có như vậy thì việc học mới có tiến bộ, bằng không thì cũng chỉ “diệt đi con đường đến với nghĩa lí”, tự mình thu mình lại.
Tiếp theo, Ông lấy ví dụ từ chính bản thân mình, Ông nói rằng: “ta đọc nghĩa lí sách Trung Dung đã hai mươi năm, vậy mà mỗi lần xem lại là mỗi lần thu nhận được những nghĩa lí khác nhau”, và những sách đã đọc thì đều muốn đọc lại cho nhuần nhuyễn cái ý vị và nghĩa lí bên trong: “lục kinh thừa tiếp, mỗi năm lại muốn đọc một lần”. Ông khuyên người học đời nay rằng: “khi gặp chỗ khó khăn, nên cương quyết, quả cảm mà tiến lên”. Ông cũng nêu ra tác hại của việc “đùa cợt, không nghiêm túc”, mà nguyên nhân là ở chỗ “tâm không kính”; điều này rất nguy hiểm, bởi nó không chỉ có nguy cơ làm hỏng việc, mà còn phương hại đến cái “chí” của người học.
Đoạn cuối, Ông đưa ra nguyên nhân của việc không “nhập tâm” là vì ngoại vật, và những thói quen, dục vọng bên ngoài tác động. Ông cũng khuyên “không để cho tâm mệt mỏi” bằng cách bỏ đi tiểu tiết, ghi nhớ cái đại lược và điều cốt yếu; nhưng những điều này chỉ có thể thực hiện khi mà đã nắm được thuần thục những điều kia. Đối với người học thì phải xem cái chí của người học hướng đến đâu, chứ không phải quan sát ở tư chất hay là sự chuyên cần của họ.
Người học cũng nên có sự chuẩn bị đối với những điều sắp học, đấy là điều cần thiết, bởi nó cũng giống như người đi đường vậy, muốn đi đúng đường thì phải hỏi những người có hiểu biết về con đường đó, bằng không người học dễ sa vào lạc lõng giữa muôn vàn tri thức. Khổng Tử từng nói: “học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi” (học mà không suy nghĩ thì sẽ quên, suy nghĩ mà không học thì là sự nguy hại). Là sao vậy? Bởi khi học là khi tiếp thu tri thức, nếu không có phương pháp cũng như suy nghĩ đúng đắn mà cứ gặp vấn đề gì cũng áp nguyên si vào thì chỉ khiến hại việc, hại thân, hại đến người và xã hội. Đấy phải chăng la sự tương đồng trong ý nghĩ của các bậc vĩ nhân?
Ở trên đã nói, việc “biến hóa khí chất” là công việc tự thân trong đó có sự trợ giúp của các phương pháp, trong đấy có phần của học tập. Trong học tập thì cá nhân phải tự thân cố gắng, nhưng nếu chỉ khư khư một mình thì cũng không thể đạt đến được hết chỗ tinh diệu của thánh nhân. Sự trợ giúp của bạn bè chính là một diệu pháp đắc lực. Người Việt ta có câu: “học thày không tày học bạn”, cũng chính là để nói lên cái ý học hỏi lẫn nhau của những người cùng trang lứa, cùng thời; mà lui về trước là học của tiền nhân. Biết quan sát mà rút ra được những chỗ thiếu sót và yếu kém của người đi trước cũng là một công phu quan trọng mà không phải ai cũng có thể thực hiện được. Bởi cuộc đời thì ngắn ngủi, không đủ đề chúng ta trải qua tất cả những sai lầm, nên việc học hỏi được từ sai lầm của người khác là một điều không gì tốt hơn; việc học hỏi kinh nghiệm từ sai làm của người khác giống như việc “đứng trên vai của người khổng lồ” là vậy.
Một người có chí học hỏi, lại có lòng cầu thị, và chưng cầu nghĩa lí thì cuối cùng cũng sẽ đạt được chỗ uẩn áo như mình mong muốn. Ông ví điều đó như việc “người nông dân chú tâm cày cuốc, tuy có năm mất mùa nhưng cũng có năm được mùa”, đấy là đối với những người thực sự có lòng quyết tâm. Còn nếu như không không thực sự có tâm học hỏi, thì chỉ cần gặp một chút khó khăn là bỏ cuộc giữa đường. Thì có suốt đời cũng chẳng thể có thành tựu gì.
Cuối cùng, Ông khuyên người học không nên có chỉ khí nhỏ hẹp, bởi điều đó sẽ giết chết đi con đường đến với sự tinh diệu của nghĩa lí, và sự truy cầu điều uẩn áo của bậc thánh nhân. Chí khí nhỏ hẹp, điều đó đồng nghĩa với việc dễ thỏa mãn với những gì đã có, dễ thỏa mãn như vậy thì sẽ không thể tiến bộ lên được. Mà điển hình cho những người chí khí nhỏ hẹp đấy là những kẻ tự cho mình là hay, tự cho mình là giỏi; tuy chưa biết, chưa học mà cứ ra vẻ như là đã biết, đã học; lại còn cảm thấy xấu hổ vì việc học, không có tâm cầu thị thì thật là không thể tiến bộ được. Cho nên kết lại của cả đoạn là một lời khuyên hết sức chân thành mà thực là hữu ích đối với người học: “Người học nên vô ngã”.
Đoạn trích “Biến hóa khí chất” là một đoạn luận giải rất có ý nghĩa đối với người học. Nó khuyên người học từ chỗ “kính tâm”, “bác văn”, “lực trí” để đi đến được tự có thể làm “thay đổi được khí chất” của bản thân. Bằng lối văn biện luận với logic chặt chẽ, Ông đã nêu ra vấn đề và giải quyết một cách chu đáo, với từng bước chi tiết, tỉ mỉ. Thực là hữu ích đối với người học muôn đời.
Tài liệu tham khảo
1. Lâm Vĩnh Thắng 林永勝, (9/1999), Ác chi nguyên lai, cá thể hóa dữ hạ thủ công phu 惡之来源,個體與下手工夫.
2. Dương Nho Tân 楊儒賓, (06/1990), Biến hóa khí chất, dưỡng khí dữ quan thánh hiền khí tượng氣質,養氣與觀聖賢氣象.
3.http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/20373-thuyet-ve-khi-cua-truong-tai/惡之源来,個體與下手工夫林永勝



[1] 《孟子·尽心上》:居移气,养移体。大哉居乎!(Mạnh Tử, chương Tận tâm hạ: nơi ở có thể làm thay đổi khí chất, nuôi dưỡng có thể làm thay đổi thể trạng. Cho nên, nơi ở là việc quan trọng lắm vậy).
[2] 《礼记·大学》:富润屋,德润身,心广体胖。”(Lễ kí, thiên Đại học: giàu có thì tô điểm cho nhà cửa, đức hạnh thì tô điểm cho tấm thân, cho nên, tâm rộng rãi thì thể tự nhiên được an nhiên thư thái).
[3] Cầu thị: tức là cái tâm ham muốn truy cầu nghĩa lí, truy cầu thực học.
[4] Trương Tái tức Trương Hoành Cừ (1020 – 1077).