Chủ Nhật, 22 tháng 6, 2014

Mùa Lạc

Thu hoạch lạc (Nguồn: Internet)
Năm nào cũng vậy, cứ vào khoảng thời gian này, quê tôi lại vào vụ thu hoạch lạc, mà tôi hay gọi với cái tên “mùa lạc” như tên một tác phẩm văn học của nhà văn Nguyễn Khải.
Mùa lạc năm nay có phần muộn hơn năm ngoái, cũng muộn hơn so với những năm về trước. Tôi nhớ những năm trước, cứ vào khoảng tết Mồng năm (tết Đoan Ngọ) dân làng đã rộn ràng thu hoạch, nhưng năm nay mãi đến tận bây giờ dân làng mới bắt đầu xuống ruộng. Nguyên nhân chính là do lạc năm nay tỉa muộn, mà nguyên nhân của việc tỉa muộn là do tiết trời lạnh. Như thường lệ, hằng năm dân làng tỉa vào trước tết, ngay sau khi thu hoạch vụ Đông, tỉa xong chuẩn bị nghỉ sắm tết là vừa. Không chỉ có lạc, mà ngay cả lúa cũng như vậy, cũng được cấy trước tết, khi thoảng có nhà nào muộn thì mới để ra giêng. Lịch xưa nay là vậy, nhưng mấy năm nay thời tiết thay đổi dữ quá, trước tết tiết trời rét căm căm, không thể ra đồng được xuống giống được. Trường hợp có tỉa được lạc, hay cấy được lúa ra đồng thì cũng bị lạnh mà hỏng hết giống, nên dân làng thường nấn ná để ra giêng, khi trời đã hửng ấm.
Lạc là cây màu ngắn ngày, từ khi tỉa đến khi thu hoạch chỉ chừng bốn tháng. Nhưng trong khoảng bốn tháng đó có biết bao công đoạn chăm sóc, từ làm cỏ, sáo đất, bón phân, cho tới vun gốc, sau đó mới yên tâm nghỉ ngơi cho đến khi thu hoạch. Đấy là nói khi bình thường, chứ khi thoảng giống xấu, lạc bị mất nhiều thì còn phải đi tỉa dặm (tỉa bù khoảng đất bị mất). Lạc có thể tỉa thóc hoặc tỉa mầm, tùy vào đất khô hay đất ẩm, trời ấm hay trời lạnh, đất bái cao hay đất bái thấp. Tỉa thóc thì nhanh, nhưng phần trăm lên không được như tỉa mầm, nhưng tỉa mầm thì lại lâu và mất thời gian hơn.
Trong kỳ nghỉ tết vừa rồi, tôi có dịp được đi tỉa lạc cùng với bố mẹ và thằng em trai, nhưng bây giờ đến khi thu hoạch thì tôi không thể về được. Trước đây, khi còn ở nhà thì năm nào tôi cũng cùng với gia đình, anh em đi nhổ lạc, thậm chí những năm khi tôi mới bắt đầu đi học, mỗi dịp mùa vụ tôi vẫn tranh thủ về giúp gia đình. Nhưng việc học ngày một bận, tôi cũng ít có thời gian về thăm nhà, nói gì đến về giúp đỡ bố mẹ những khi nông vụ.
Năm nay tôi không thể về được, nên chuyện của năm nay tôi hiện chưa được rõ, tôi đi nói chuyện trước đây vậy. Những chuyện thu hoạch thì thực ra năm nào cũng như năm nào, nên cũng chẳng có gì mới lạ. Vào mùa thu hoạch là khi lạc đã già chừng 80%, mà cây lạc cũng bắt đầu rượi xuống, bà con háo hức xuống ruộng thu hoạch. Chuyện đồng quê, tưởng chừng mệt nhọc, nhưng cũng không ít tiếng cười và niềm vui.
Bởi mùa này ban ngày trời rất nắng, chừng 9 – 10 giờ sáng thì đã không thể chịu được nữa rồi, nên bà con thường đi nhổ lạc vào buổi tối hoặc lúc về sáng. Tôi còn nhớ một lần nhà tôi đi nhổ lạc lúc về sáng, khi đó khoảng 3 giờ sáng, khi đó trăng hãy còn tỏ, gió mùa nhẹ thổi, vắng tiếng ếch nhái, tí tách tiếng dế, nghe như một bản nhạc đồng quê. Nhà tôi đi sớm là vậy, nhưng đến ruộng thì đã có nhà nhổ được cả sào rồi, chắc có lẽ họ đi từ tối qua. Bố tôi không quên đem theo cái điếu cày, trước khi xắn tay là thì không quên bắn một điếu. Cũng nhờ cái điếu, khi thoảng mấy chú, mấy bác gần đó chạy lại hút thuốc, chuyện trò xua tan đi cái nỗi vất vả của nghề nông. Cái nghề nông gắn bó từ thuở cha ông, tuy vất vả, cực nhọc nhưng yên bình, đậm tình người.
Trời càng về sáng, tiếng chào hỏi, chuyện trò trên khắp cánh đồng càng trở nên rôm rả hơn. Những câu chuyện phiếm, những lời so sánh về mùa màng năm nay với các năm trước, rồi những chuyện trên trời dưới biển cũng không hề ngớt trên môi những người nông dân vui tính, hóm hỉnh. Khi thoảng được chuyện hay, mọi người lại cười phá lên, nhưng tay vẫn đều đều quơ nhổ từng hàng cây lạc đều tăm tắp. Khi thoảng, một vài người đi qua lại hỏi vọng xuống xem lạc năm nay có nhiều củ không, và những tiếng chào đáp trả kèm theo những câu trả lời.
Nắng sớm nhẹ vắt qua muôn vật, một vài khoảnh lạc hãy còn xanh, lấm tấm lẫn trong màu xanh của lá lạc là một vài chấm vàng tươi của hoa lạc. Mà cũng lạ, ngay cả những nhà cây đã bắt đầu lụi, vẫn thấy có điểm vài màu vàng tươi của hoa lạc. Những gốc ngô lô chô nhô lên giữa bạt ngày màu xanh của lá lạc, quê tôi thường tỉa ngô ở hai bên của vạt lạt, nhưng do ngô tốt, lạc hay bị vóng, nên giờ ít nhà trông xen ngô vào lạc. Thực ra, trước đây trồng xen ngô vào lạc như vậy là để lấy ngô để chăn nuôi, chứ giờ thức ăn chăn nuôi sẵn nên người ta cũng không quan trọng việc trồng xen ngô nữa.
Lạc sau khi nhổ lên, giũ sạch đất, sẽ được phơi sơ tại ruộng trước khi đem về, cho nên buổi trưa mới phái cất công ở lại ruộng trông coi là như vậy. Quê tôi, cũng tùy vào cây lạc có tốt hay không mà người ta có xén bớt phần lá đi hay không. Việc xén bớt lá đi là vì một số lí do, trước là để đem phần gốc và củ về cho nhẹ hơn, sau là lấy phần lá phơi khô làm thức ăn mùa mưa cho trâu bò, hoặc có nhà dùng lá lạc tươi làm phân bón, nói chung là không để lãng phí chút sản phẩm phụ nào của đồng ruộng. Giữa trưa sang chiều, khi lớp trên đã khô, chúng tôi sẽ đi trở ngược từng khom lại để cho khô cả mặt dưới, việc này tuy không lâu như nhổ, nhưng dưới trưa hè thì cũng đủ để mướt mồ hôi.
Dưới cái nắng tháng Năm, những bọn trẻ con như chúng tôi được giao nhiệm vụ trông lạc, tất nhiên là ngồi trong bóng cây, hoặc chỗ mát nào đó, chứ không phải là ngồi ngoài nắng. Ở quê, dẫu nắng nhưng không gian bao la, gió Nam đưa ngược lên rất khoan khoái. Lại chưa kể khi thoảng có cánh diều no gió, nằm gác chân chữ ngũ, mắt liu diu, vừa gật gù vừa ngắm cánh diều bé tí trên cao. Khi thoảng ngủ quên, tỉnh dậy thì mặt giời cũng xuống gần đến ngọn tre.
Chiều đến, tùy theo điều kiện từng nhà mà các phương thức đem lạc về nhà cũng khác nhau. Có nhà dùng xe trâu, xe bò, có nhà thuê công nông, thậm chí có nhà vẫn dùng xe thồ. Trên những cánh đồng, trên khắp đường đi, đâu đâu cũng lạc, những tiếng cười nói, những câu hát vui, những tiếng í ới gọi nhau, càng làm cho cảnh ngày mùa thêm náo nhiệt.
Nhà tôi có xe bò, nên việc chở một sào lạc đem từ đồng về nhà cũng không phải khó khăn lắm. Thông thường, nếu đã xén lá thì sẽ chở chừng một xe nặng, chất cao như cây rơm. Nếu lạc cây tốt mà không xén lá, thì thường phải chở làm hai chuyến cho nhẹ, mà cũng đỡ cồng kềnh. Khi thoảng, tôi xin được đánh xe bò, trên đường về leo lên xe ngồi, nghe gió lùa qua tai, nghe mùi vị ngày mùa mằn mặn thấm dần vào miệng qua những giọt mồ hôi. Trên đường, những xe lạc như những cây rơm di động nối đuôi nhau, tựa như những đoàn xe trong kháng chiến chầm chậm tiến về phía trước. Những cảm giác khó tả trào lên, nhìn về nơi xa xăm, những áng mây đủ màu của chiều hè tuyệt đẹp, đủ các hình thù, chỉ cần khéo tưởng tượng một chút là có thể đoán ra đủ thứ trên đời.
Sau khi đem về nhà, lạc sẽ được vặt tách riêng phần củ và phần gốc, sau đó phơi riêng gốc và củ. Phần gốc sẽ được phơi riêng để làm củi đun, phần củ được phơi cho tới khi giòn, sau đó sẳn bớt những củ óc, củ sâu và những rác, rồi mới đóng bao hoặc cho vào chum. Trường hợp chưa thể vặt tách riêng củ ra được, thì sẽ phơi thêm một vài nắng, sau đó đánh đống, che đậy cẩn thận để vặt dần.
Tôi là một đứa khá háu ăn lạc, từ lạc tươi, lạc luộc, cho đến lạc khô, lạc rang, món nào tôi cũng khoái. Mùa lạc, hầu như lúc nào trong túi áo túi quần cũng có lạc, khi thoảng buồn mồn thì ăn, đã thế nhà tôi lại có giếng khơi, nước trong mà ngọt, mùa hè uống mát rượi, mỗi khi đi nắng về múc lấy một gầu, đánh vài ngụm thì tỉnh hết cả người. Nhà tôi hay lo tôi ăn lạc sống uống nước lã đau bụng, nên hay quát lắm. Tôi cũng dạ dạ vâng vâng, nhưng lát sau lại đâu vào đấy. Trẻ con ở quê mà, đứa nào chẳng vậy.
Đấy là những năm thời tiết thuận lợi, giời không mưa liên miên, dân tình còn thong thả. Chứ những năm mưa gió, nước ngập khắp từ bái thấp đến đồng cao, chỉ hai ba hôm lạc đã bắt đầu thối, dân làng lại hô hào khai đi nhổ chạy. Đối với lạc nước, nhà nào có đất phơi thì sẽ đem luôn về phơi, nhà nào không có đất phơi thì phải chống thành từng mô, chổng phần gốc và củ lên trên giời, sap cho không tiếp xúc với nước thì tốt. Nói chung, nhổ lạc nước thì khổ lắm, nên chẳng có gì vui cả, nhưng chuyện gì càng khổ thì người ta lại càng nhớ lâu. Nhưng nhớ thì cũng kệ, bởi cũng chẳng ai muốn nhắc chuyện khổ mà làm gì.
Khi trên đồng hầu hết đã thu hoạch xong, những cánh đồng bát ngát màu xanh của lạc giờ chỉ còn là những khu đất trống bao la. Sắp tới, trên những khoảng đất trống đó người ta sẽ làm vụ mới, mà chủ yếu là gieo sạ lúa. Lúc bấy giờ, là lúc trẻ con tranh thủ những ngày nghỉ hè lên đồng đi mót lạc, mót là mót những củ lạc rơi, những bụi lạc còn sót lại. Việc mót lạc không chỉ vì tránh để sót gây lãng phí, mà còn là để về sau lạc sót lại không lên gây hại cho lúa. Những đêm mưa, sáng hôm sau trẻ con lên đồng từ rất sớm, bởi mưa thì những củ lạc sót sẽ chòi ra, khi thoảng chỗ nào nước ngập lạc còn trôi dạt về một góc, chỉ cần vốc lấy. Những lúc như vậy, chỉ biết sướng thôi chứ chả rảnh để nghĩ đến mưa gió thì ảnh hưởng đến mùa vụ ra sao cả đâu, với lại trẻ con nghĩ nhiều mệt lắm.
Các bạn ạ, dầu là giời mưa hay giời nắng, năm được mùa hay năm thất bát, thì trên quê tôi cũng chẳng vì thế mà thiếu đi những niềm vui, những tiếng cười. Ấy là những năm ngược về trước, chứ dăm ba năm nay, tôi ít được ở nhà lâu nên những cảm nhận cũng ít dần đi. Ngoài Hà Nội, tuy đông vui tấp nập, nhưng nhiều lúc nhớ nhà, nhớ quê kinh khủng. Nhất là những ngày mùa như thế này, nghĩ đến bố mẹ vất vả ở quê mà lòng thêm rạo rực, khi thoảng ngồi trên tầng thượng trông về phương nam mà trong lòng không khỏi nghĩ xa xăm.
Đêm nay giời lác đác mưa, không khí êm dịu, ngoài Hà Nội tôi chỉ biết gửi chút tâm sự qua câu chuyện về ngày mùa quê tôi. Cũng là để không quên đi những ngày vất vả nhưng cũng ắp kỷ niệm của tuổi thơ. Giờ đây, và có những lúc tôi thèm cái cảm giác được đi chân đất chạy trên những cánh đồng một cách lạ thường.
Hà Nội, đêm 22 tháng 6 năm 2014

Duy Phong (Lê Đình Sơn)

Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

Tấm bia gửi giỗ chùa Phúc Đức (Quốc Oai) và vài lời sám hối

            Mùa hè năm thứ ba (tháng 8 năm 2013), lớp chúng tôi đi Thực địa ở Hà Tây, có dịp nghỉ tại chùa Phúc Đức (phủ Quốc Oai) độ mươi ngày. Những ngày đó, chúng tôi đã được nhà chùa tạo điều kiện và giúp đỡ rất nhiều. Hôm trước ngày về, thầy Trụ trì có đưa cho chúng tôi một cuốn sách cúng chép tay bằng Hán văn, nói rằng nhờ lớp dịch hộ, khi đó tôi thay mặt lớp nhận lời. Sau đó, chúng tôi trở về trường tiếp tục những bộn bề của công việc học hành, rồi viết Báo cáo, chuẩn bị năm học mới, mà chẳng biết vô tình hay hữu ý quên mất lời nhờ cậy của nhà chùa.
Chừng hơn hai tháng sau, tôi giật mình khi nhận được cuộc gọi cùa thầy Giác Hảo bên chùa gọi điện hỏi về việc dịch cuốn sách cúng kia, tôi mới tá hỏa và bắt đầu phiên âm cho sách, chừng hơn nửa tháng sau thì gần như đã hoàn thành việc phiên âm, chỉ còn ít phần “thần chú” do là dân ngoại đạo nên tôi còn để ngỏ. Lúc đó, bắt đầu thi học kì I bên Nhân văn, và học bên Ngoại ngữ nên tôi lại “hữu ý” quên một lần nữa. Lại chừng hơn một tháng (có lẽ là gần hai tháng sau), thầy bên chùa lại gọi điện hỏi về việc dịch cuốn sách. Lúc này, nếu tính đúng ra thì đã hơn bốn tháng (hay gần 5 tháng) kể từ ngày nhà chùa nhờ việc mà chúng tôi chưa thể làm xong. Chúng tôi lại xin nhà chùa cho khất thêm một thời gian nữa. Nhưng rồi, dường như mọi việc đã đi quá xa khi chúng tôi cứ mãi khất lần như vậy, thời gian thì cứ trôi đi mà mọi thứ vẫn cứ y nguyên không chút tiến triển. Lúc này, để đối phó, tôi đã dịch trước tấm bia gửi giỗ để gửi trước cho nhà chùa yên tâm, bởi tấm bia ngắn, chỉ có dăm ba chỗ chữ bị mất hay bị mờ là khó nhìn ra, còn toàn bộ bia thì đơn giản. Khi dịch xong tấm bia gửi giỗ kia, tôi gửi ngay cho bên chùa để họ yên tâm.
Lại chừng một thời gian sau, nhà chùa lại gọi điện hỏi về cuốn sách, lúc này thực là đã quá lâu, mọi việc dường như đã ra ngoài tầm kiểm soát của tôi. Tôi dịch vội một đoạn của cuốn sách cúng đó, thấy hơi trúc trắc, tôi gọi điện bảo với hai người trong lớp dịch chung với tôi để cho kịp gửi lại nhà chùa. Thế nhưng, việc ít người thì làm không được, nhưng nhiều người thì làm cũng không xong. Chúng tôi lại mỗi người một phách, mà rồi cũng chẳng làm thêm được gì.
Lúc bấy giờ, tôi thực sự rơi vào hoang mang, có chút lo sợ. Một cảm giác áy náy, xấu hổ dâng lên đến tột độ trong người tôi. Tôi không biết phải giải thích sao cho việc vô trách nhiệm của mình. Tôi đã phụ lại những lời gửi gắm của nhà chùa – nơi đã tận tình với chúng tôi trong suốt một tuần lễ Thực địa. Mấy hôm sau, chúng tôi đã gửi lại chùa cuốn sách dịch còn dở dang, lòng tôi đầy xấu hổ xen lẫn lo lắng về một điều gì đó xa xăm. Thực sự, tôi chỉ muốn chui xuống đất!
Giờ nghĩ lại, tôi lại càng thêm áy náy, xấu hổ và tự trách về sự vô trách nhiệm của mình. Nhìn lại bốn năm Đại học, tôi luôn cố gắng để hoàn thành mọi việc một cách hoàn chỉnh nhất và tốt nhất, nhưng sao với việc của nhà chùa nhờ cậy thì tôi lại hững hờ và vô tâm đến vậy.
Dưới đây, tôi xin trích phần Phiên âm và Dịch nghĩa của tấm bia gửi giỗ được đặt trong chùa, xem như một lời sám hối muộn màng của một kẻ lơ đễnh.
1.      Phiên âm: Ký kị tích
       Quốc Oai phủ, Yên Sơn huyện, Phúc Sài xã. Nguyễn Thị Sơ hiệu Diệu Trái, tự niệm tiền sinh quan quả, tiền hậu vô y. Chí ư Mậu Dần niên thập nguyệt nhị thập ngũ nhật, bản xã dữ thiền tăng tu lý bản tự, cai thị quyên xuất thanh tiền thập quan công đức, tái cúng phì điền nhất sào tại Đồng Mai xứ dĩ vi hương đăng cúng. Phật thánh Ất Mùi niên, bản xã hội thiện tái tu lý tự tượng, cai thị hựu cúng tiền thập quan, hựu trí kí kị điền [nhất sào] tại Đầm Xanh xứ?, bán sào tại Vĩnh Lộc địa phận, Đồng [Tháp] xứ. Kì giá điền hợp nhất thu bản tự tăng canh.
        Đệ niên, [thập] nhất nguyệt sơ tứ nhật kị, thời bản tự tăng nghi tác oản quả các tam thập phẩm, hảo kim ngân nhị bách hồ, kim ngân tam đỉnh, [? ? ], phạn nhất bàn, thượng hiến cúng Phật, hạ cấp vong linh Nguyễn thị hiệu Diệu Trái. Hiển khảo Nguyễn Quý công, hiệu Phúc Lộc. Tỉ hiệu Diệu Tập. Thiết khủng vô bằng thất truyền giá sự, dĩ hữu từ trình bản xã, nguyện khắc phương thạch chí chi vu tự nội, vi: “kí kị tích.” Bản xã hiệp hứa y dĩ hợp khắc thạch bi vĩnh truyền vu hậu vân nhĩ!
       Minh Mệnh thập lục niên lục nguyệt thập lục nhật.
2.      Dịch nghĩa: Bia gửi giỗ
       Bà Nguyễn Thị Sơ hiệu là Diệu Trái, người xã Phúc Sài, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai. [Bà] tự nghĩ rằng, trước đây sống đơn độc, về sau [khi trăm tuổi] không có nơi trông cậy [việc hương hỏa]. Đến ngày 25 tháng 10 năm Mậu Dần, xã ta cùng với các thầy nhà chùa sửa chữa chùa làng, Bà đã cúng công đức 10 quan thanh tiền, lại cúng một sào ruộng tốt ở xứ Đồng Mai?[1] để cúng làm hương hỏa. Phật thánh năm Ất Mùi, xã ta lại sửa chữa lại tượng trong chùa, Bà lại cúng thêm 10 quan tiền, và thu xếp [cúng thêm] một sào ruộng ở xứ Đầm Xanh?[2] và nửa sào ruộng ở địa phận Vĩnh Lộc, xứ Đồng Tháp, để gửi giỗ. [Số] ruộng đó gộp lại giao cho các thầy nhà chùa canh tác [để thu hoa lợi].
       Hằng năm, giỗ [bà] vào ngày mồng 4 tháng 11, thì các thầy nhà chùa phải chuẩn bị oản quả ba chục, hai trăm tiền hồ, ba đỉnh bạc, [? ?], một mâm cơm, trên thì cúng Phật, dưới thì cúng cho vong linh của bà họ Nguyễn, hiệu là Diệu Trái. Hiển khảo là ông Nguyễn Quý, hiệu là Phúc Lộc. Hiển tỉ hiệu là Diệu Tập. [Bà] trộm lo rằng, nếu không có bằng cớ thì việc [gửi giỗ] này sẽ bị thất truyền, [nên trước] đã có lời thưa với xã ta, xin khắc vào đá vuông đặt ở trong chùa, tên là “kí kị tích” (bia gửi giỗ). [Người trong] xã ta đã cùng đồng ý khắc bia đá để mãi truyền về sau!
       Ngày 16 tháng 6 năm Minh Mệnh thứ 16.
       (Ngày 16 tháng 6 năm 1835)
Ghi chú:
- Những chi tiết để trong ngoặc vuông [   ] là do người dịch thêm vào.
- Những chi tiết chưa thể xác định, chúng tôi để dấu chấm hỏi (?) để đợi ngày sau hoặc là có cao nhân đính chính lại.
_______________________________________
[1] Đầm Mai – tên địa danh. Chúng tôi phiên như vậy nhưng chưa thể kiểm chứng được có đích thực địa danh đấy có tên là Đầm Mai hay không, nên tạm phiên là Đầm Mai, đợi ngày sau đính chính lại.

[2][2][2] Đầm Xanh – tên địa danh. Chúng tôi phiên như vậy nhưng chưa thể kiểm chứng được có đích thực địa danh đấy có tên là Đầm Xanh hay không, nên tạm phiên là Đầm Xanh, đợi ngày sau đính chính lại.

Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Khoa cử học tổng luận (lược dịch)

1.     Phạm trù Khoa cử học
 Khoa cử học là một ngành khoa học nghiên cứu về khoa cử. Phạm vi nghiên cứu của Khoa cử học rất rộng lớn, cần phải làm rõ phạm trù Khoa cử học và nội dung nghiên cứu của Khoa cử học.
1.1.         Phạm vi nghiên cứu của Khoa cử học
Khoa cử học chính là đi nghiên cứu về các vấn đề khoa cử. Khoa cử học có thể phân thành hai phạm trù là Nội học và Ngoại học. Nội học hay Nghiên cứu nội bộ là nghiên cứu chế độ và hoạt động khoa cử. Ngoại học hay Nghiên cứu bên ngoài là tiến hành nghiên cứu các bộ môn có liên quan đến khoa cử và ảnh hưởng của nó tất cả những phương diện khác. Khi nghiên cứu về khoa cử cần có một cái nhìn tổng quát, toàn diện, gồm cả đông tây kim cổ, thậm chí nghiên cứu từ thời Tây Chu cho đến thời Trung Hoa Dân Quốc, cũng bao gồm cả Đông Á và Âu – Mỹ.
Từ quan hệ ngoại diên của Khoa cử học mà nói, Khoa cử học không chỉ có liên quan đến lịch sử học, chính trị học, giáo dục học, văn học, xã hội học, mà còn liên quan đến văn hóa học, tâm lí học, kinh tế học,… mỗi ngành lại giao thoa với nhau và cùng giao thoa với Khoa cử học. Nội học chính là đi nghiên cứu Khoa cử học, còn Ngoại học chính là đi nghiên cứu vùng giao thoa của các học khoa với Khoa cử học. Lịch sử khoa cử và lịch sử thi cử của Trung Quốc có mối quan hệ lớp lang, về cơ bản thì lịch sử khoa cử có thể xem là lịch sử thi cử từ cận đại trở về trước.
Nội dung của chế độ khoa cử vừa rộng vừa phức tạp, không chỉ là thi cử, nhưng thi cử lại được xem là hạt nhân, các quy định chế độ, cho đến xuất thân ra làm quan, đều là xuất phát từ thi cử, nếu không có thi cử thì không còn được gọi là khoa cử. Chính vì thế, thi cử trong khoa cử chính là một trong những nội dung của Khoa cử học.
1.2.         Phạm vi sử dụng trong các tác phẩm nghiên cứu khoa cử
Bởi nghiên cứu tương quan gián tiếp đến khoa cử trên thực tế rất rộng lớn, để phạm trù Khoa cử học được rõ ràng hơn, chúng ta giới định phạm vi nghiên cứu của Khoa cử học thành “nghiên cứu bản thân khoa cử và vấn đề liên quan trực tiếp đến khoa cử”. Tiêu biểu trong và ngoài nước có 6 công trình thống kê về nghiên cứu khoa cử.
- Trong tác phẩm Khoa cử - địa ngục thi cử Trung Quốc (1976) tổng cộng có 36 điều, Conrad Schirokaauer vẫn còn đưa một bộ phận khác nằm ngoài khoa cử vào công trình của mình, nhưng đấy được xem là công trình sớm nhất trong và ngoài nước viết về khoa cử.
- Năm 1986, học giả người Mỹ - Franklin Parklin phát biểu trên tạp chí tiếng Anh - Văn hóa Trung Quốc do Đài Loan xuất bản, gồm 47 điều. Trong đó, trừ điều thứ 3 là thống kê về thi cử thời Trung Hoa Dân Quốc, còn đa số là thống kê nghiên cứu về khoa cử. Đặc điểm của công trình này là mỗi thiên được giới thiệu và chú giải một cách khái quát.
- Năm 1992, học giả người Nhật là Sơn Căn Hạnh Phu đã biên tập Khoa cử quan hệ văn hiến mục lục cảo, thống kê gần 600 điều, phân thành thông luận với các bộ phận kéo dài từ Tùy- Đường đến Minh- Thanh. Phần bằng Nhật văn thì tương đối hoàn chỉnh, nhưng phần bằng Trung văn thì bỏ sót nhiều, mà có bộ phận lại ghi chép cả lịch sử giáo dục và lịch sử quan chế.
- Năm 1997, Lý Thành Mậu người Hàn Quốc xuất bản cuốn Hàn quốc khoa cử chế độ sử, phụ thư là Khoa cử chế độ tương quan luận trứ mục lục, với hơn 400 điều bằng các ngôn ngữ Hàn – Trung - Nhật. Trong đó thì phần bằng Trung văn và Nhật văn thì chưa được toàn diện, nhưng trước năm 1996 thì những nghiên cứu về khoa cử bằng tiếng hàn rất ít.
- Tháng 6/1999, Mao Bội Kì chủ biên xuất bản cuốn Trung Quốc trạng nguyên đại điển, phụ thư Khoa cử chế độ cập trạng nguyên nghiên cứu luận trước dẫn dụng, xuất bản tại Nxb Nhân dân Vân Nam. Với hơn 600 điều bằng Trung văn, tổng luận theo khoa cử của lịch triều, kiêm luận về khoa cử các giai đoạn đến tổng thuật để sắp xếp biên tập, phân loại tương đối tỉ mỉ, chỉ có điều là in cả niên đại và luận văn nhân vật trạng nguyên vào.
- Tháng 7 năm 1999, Cao đẳng giáo dục xuất bản xã xuất bản cuốn Trung Quốc khảo thí sử chuyên đề luận văn tập, phụ thư là Khoa cử nghiên cứu chuyên trứ cập luận văn sách dẫn. Công trình này vẫn chưa bao quát hết các trước tác của Đài Loan và nước ngoài, trong đó vẫn còn một bộ phận không thuộc vào lịch sử thi cử mà thuộc vào lịch sử giáo dục và đề cử.
Trong 6 công trình trên, càng về sau thì càng nhiều điều mục, nhưng vấn đề tồn tại chung ở đây là vẫn chưa đi vào trọng tâm nghiên cứu khoa cử.
2.     Nội dung Khoa cử học
Phạm vi và nội dung nghiên cứu của Khoa cử học rất rộng lớn và phong phú. Xét một cách tổng thể, nội dung nghiên cứu của khoa cử học chính là khởi nguyên của chế độ khoa cử, lịch sử suy vong và quy luật, quy chế, khoa thi, các phương pháp và nội dung thi.
Nghiên cứu về khoa cử thường chú trọng về chế độ khoa cử, nhưng khoa cử học không chỉ nghiên cứu chế độ khoa cử, mà bao quát ở 3 phương diện là chế độ khoa cử, hoạt động khoa cử, lịch sử tư tưởng khoa cử. Ba phương diện này quan hệ mật thiết với nhau và tạo thành một chỉnh thể.
Bởi vì, nội dung của khoa cử phong phú và có tính tổng hợp, quyết định nên khoa cử học chính là sự tập trung và dung hòa của nhiều học khoa. Trên thực tế, phạm vi nghiên cứu của khoa cử đã chạm đến các lĩnh vực như: lịch sử học, giáo dục học, chính trị học, văn học, xã hội học.
Tuy phạm vi nghiên cứu của khoa cử học rộng lớn, nội dung bao quát, nhưng lại không giao thoa với học thuật. Vấn đề tranh luận trong khoa cử học không sao nói hết, lớn từ công tội trong hàng ngàn năm của khoa cử, nhỏ thì nói đến một nhân vật lịch sử nào đó, đều không ít trao đổi. Nhiều vấn đề tranh luận về khoa cử học được đem ra trao đổi trực tiếp khiến bức tranh về khoa cử học trở nên náo nhiệt.
3.     Tông chỉ của Khoa cử học (mục đích và ý nghĩa của khoa cử học)
Khoa cử học đánh giá về chế độ khoa cử và văn hóa truyền thống trên cơ sở khách quan, toàn diện. Mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu khoa cử học chủ yếu ở 3 phương diện:
Thứ nhất, để khoa cử học trở nên cụ thể và có hệ thống, có tính tổng hợp và lí luận hóa. Xu thế phát triển của khoa học là không ngừng phân hóa, giờ đây đã xuất hiện xu thế giao thoa và tổng hợp khoa học, giao thoa khoa học là một trong những phương thức tạo nên sự sáng tạo tri thức. Nghiên cứu khoa cử trước đây thường phân ra giáo dục học, lịch sử học, chính trị học, văn học, xã hội học, … và đã đạt được không ít những thành tựu, trong đó nghiên cứu khoa cử của giới sử học có nhiều thành quả nhất. Tạo nên mục đích và ý nghĩa của Khoa cử học là đem tất cả các phương diện của khoa cử, tạo thành một lĩnh vực chuyên môn để tiến hành nghiên cứu. Nếu đem các nghiên cứu khoa cử thống nhất lại thì mới có thể hợp sức hình thành, khiến nghiên cứu khoa cử xuất hiện những bước đột phá và nhảy vọt.
Trước đây, nội dung nghiên cứu khoa cử học tuy phong phú, nhưng lại có rất ít ý thức được rằng coi khoa cử là một lĩnh vực chuyên môn nghiên cứu, mà chỉ nghiên cứu đơn độc. Trong khi đó các chuyên ngành khoa học lại liên quan chặt chẽ và tương hỗ với nhau và tạo thành hệ thống. Khi nào coi khoa cử và các khoa học khác như một thể, tiến hành nghiên cứu thì mới có được bước phát triển mới.
Thứ hai, là để hiểu sâu sắc, nâng cao và làm phong phú tri thức của chúng ta về lịch sử  xã hội và văn hóa truyền thống, phát huy văn hóa cổ truyền. Hiểu được về khoa cử, là chìa khóa để mở cánh cửa bước vào văn hóa truyền thống, hiểu được những lịch sử xã hội Trung Quốc thời cổ đại, nếu không sẽ rất khó để hiểu được về văn hóa truyền thống Trung Hoa. Nếu có thể hiểu được về khoa cử một cách sâu sắc thì cũng sẽ hiểu được về văn hóa truyền thống Trung Quốc một cách sâu sắc.
Chế độ khoa cử và nền chính trị quan liêu Trung Quốc có quan hệ mật thiết không thể tách rời, chế độ khoa cử là cơ sở của chế độ chính trị quan liêu Trung Quốc thời cổ đại. Lịch sử khoa cử là nội dung quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Trung Quốc, thành quả trong nghiên cứu khoa cử học có thể trực tiếp làm phong phú thêm nội hàm của ngành lịch sử giáo dục Trung Quốc.
Tóm lại, Khoa cử học có thể trở thành một mảng thú vị trong nghiên cứu về văn hóa lịch sử xã hội Trung Quốc, quan sát từ góc độ này có thể thấy một lĩnh vực học thuật vừa cổ xưa lại vừa mới mẻ, vừa rộng lớn lại vừa chuyên môn, có tiền đồ rộng mở.
Thứ ba, để tìm ra quy luật phát triển của thi cử, cải cách thi cử, bài học lịch sử, phục vụ tốt cho việc thực hiện cải cách trong thi cử.
Tuy khoa cử đã trở thành lịch sử, nhưng thi cử thì vẫn chưa trở thành quá khứ, trong thực tế thi cử vẫn xuất hiện nhiều vấn đề, cùng với khoa cử nó có đủ những điểm giống nhau đến kinh ngạc. Khoa cử học không đơn thuần chỉ nghiên cứu những khía cạnh tĩnh của khoa cử, mà còn chú trọng nghiên cứu động thái phát triển trong hiện thực khoa cử, nhân nghiên cứu đó khoa cử học vẫn còn có tính thực tế rõ ràng. Một trong những ý nghĩa của khoa cử học chính là đề xuất quy luật phát triển của khoa cử, để thực hiện cải cách thi cử và rút ra bài học lịch sử. Ở một ý nghĩa nhất định nào đó, trên thực tế khoa cử học chính là nghiên cứu lịch sử thi cử Trung Quốc. Khoa cử học và sử học khảo thí Trung Quốc có mối quan hệ lớp lang với nhau, hai lĩnh vực đó trên cơ bản là có cấu tạo như nhau. Từ khía cạnh của lịch sử thi cử, cũng có thể nói rằng khoa cử học là một chuyên ngành sản sinh ra từ thi cử trong khoa cử, phát triển, suy vong và phân phái. Nghiên cứu khoa cử học, có thể giúp chúng ta hiểu rõ một cách tổng thể về lịch sử phát triển hơn một nghìn năm của khoa cử, giúp chúng ta có đầy đủ một kiểu tri thức lịch sử hoặc cảm khái lịch sử, hun đúc và phát triển một kiểu thói quen quan sát vấn đề một cách xa rộng, có thể tránh những hành động hạn hẹp và vụ cái lợi trước mắt, tránh được sự mù quáng. Bất kể thi cử nào thì cũng là sản phẩm của lịch sử, đều từ trong quá trình phát triển và biến hóa của lịch sử mà hình thành, lịch sử và hiện tại đều có ý nghĩa tương đối. Khi nghiên cứu, không nên tách rời quá khứ và hiện tại, quá khứ chính là cơ sở và nền tảng cho sự phát triển của hiện tại. Cho nên, nghiên cứu nội dung của khoa cử học tuy là đã thi cử đã qua, nhưng xuất phát điểm và là điểm đến của nó đều là hướng tới hiện tại tương lai.
Không hiểu biết về lịch sử, sẽ rất dễ phạm phải sai lầm trong lịch sử. Vì vậy, nghiên cứu về thi cử rất có lợi cho chúng ta đi sâu vào nghiên cứu quy luật phát triển của thi cử, giúp chúng ta đón nhận những quy luật phát triển đó một cách chính xác, hiểu và tuân theo những quy luật đó có thể giúp chúng ta tiến hành cải cách thi cử. Từ khi hình thành, thi cử là phương thức chính để tuyển chọn nhân tài, hiểu rõ quy luật phát triển của nó thì mới có thể tránh giẫm lên vết xe đổ của quá khứ.
Khoa cử Trung Quốc có lịch sử lâu đời, kinh nghiệm phong phú, quy tắc nghiêm cẩn, nhưng lại khuyết thiếu lí luận, khoa cử học có ý nghĩa thực tiễn to lớn, cho thấy rõ và chính xác quy luật của khoa cử, tất nhiên là cũng có lợi cho việc hiểu một cách chính xác về truyền thống và tình hình đất nước Trung Hoa, có ích cho việc đánh giá một cách chính xác về tác dụng của khoa cử, có ích cho việc hoàn thiện và cải cách thi cử.
Chúng ta không chỉ nên tiếp tục khảo đính cụ thể về khoa cử ở khía cạnh sự kiện lịch sử, mà nên chú trọng nghiên cứu giá trị vốn có của khoa cử cũng như phát huy ý nghĩa của khoa cử, tập trung tìm tòi học thuyết và lý luận, đem nghiên cứu khoa cử cụ thể và những nguyên tắc thông thường phát huy, giải thích và kết hợp lại, tìm tòi quy luật phát triển của thi cử, để làm bài học cho tiến hành cải cách thi cử hiện tại. Đó mới chính là tông chỉ và mục đích của xây dựng Khoa cử học.
Hà Nội, tháng 2 năm 2014.
Duy Phong (Lê Đình Sơn) lược dịch.
Ghi chú: Bài lược dịch phục vụ môn Giáo dục và Khoa cử Việt Nam, môn học do thầy Đinh Thanh Hiếu phụ trách giảng dạy trong học kì 2 năm học 2013 - 2014 (năm cuối).