Thứ Tư, 25 tháng 10, 2017

Một bài Phát biểu nhân dịp Quốc khánh của Tổng thống VNCH (Đệ nhất Cộng hòa)

Hôm nay 26 – 10 , là Quốc khánh Việt Nam Cộng Hòa thời Đệ nhất Cộng hòa (thời của Ngô Đình Diệm, 1955 - 1963), xin chia sẻ bài phát biểu của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa nhân dịp Quốc khánh 26 – 10 – 1962. Đây cũng là Quốc khánh gần như cuối cùng của thời Đệ nhất cộng hòa, bởi ngay sau đó, Đệ nhất Cộng hòa đã bị lật đổ vào 1 – 11 – 1963, ba anh em nhà Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn đều bị giết trong cuộc đảo chính.
Bài Hiệu triệu (phát biểu) của Tổng thống VNCH [này] được tìm thấy trên Tuần san Công thương – Mãi (Mại) Saigon, số 276, năm 1962. Tư liệu lưu trữ tại Thư viện Nanyang Xueyuan (Học viện Nam Dương), Đại học Hạ Môn.
Dưới đây là toàn bộ nội dung bài phát biểu:

Hiệu triệu của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa
Nhân dịp lễ Quốc khánh 26 – 10 – 1962

Hỡi quốc dân đồng bào,
Hôm nay, long trọng kỷ niệm đệ thất chu niên Cộng Hòa, nhân danh Chính phủ và nhân danh riêng tôi, tôi gởi đến toàn thể đồng bào, từ Nam chí Bắc cũng cũng như ở hải ngoại, lời chào thân ái.
Đồng bào hãy cùng tôi tưởng nhớ công ơn các chiến sĩ tiền tuyến và tất cả các cấp Dân Quân Chính, Thanh nam, Thanh nữ Cộng Hòa, Bảo vệ Hương thôn, Phụ nữ bán quân sự, đang ngày đêm chiến đấu để chính nghĩa được toàn thắng và cuộc Cách mạng của dân tộc thành công mỹ mãn.
Đồng bào hãy cùng tôi nghiêng mình trước anh linh các nghĩ sĩ dã anh dũng xả thân để phụng sự Tổ quốc, bảo vệ Tự do.
Trước hiện tình đất nước, ta cần phải đoàn kết chặt chẽ để sớm đạt được thắng lợi cuối cùng.
Đương đầu với lực lượng phá hoại của Cộng sản vô thần, nhiệm vụ của chúng ta là phải giải phóng mỗi người cũng như toàn thể nhân dân thoát khỏi mọi hình thức hủy diệt thể chất và tinh thần, bằng cách xây dựng một nền dân chủ luôn luôn cảnh giác và tích cực phấn đấu, để vừa cải tiến kinh tế, xã hội, vừa phát triển văn hóa, đạo đức. Chính ý chí đó là động lực thúc đẩy cao trào cách mạng của nhân dân xây dựng Ấp chiến lược, một ý chí cương quyết, anh dũng và sáng tạo trong kỷ luật và khắc khổ. Chính tinh thần ấy lôi cuốn chúng ta tiến bước đến công bằng xã hội và tự do dân chủ, bất chấp mọi trở ngại của tình trạng kém mở mang.
Tinh thần ấy đòi hỏi chúng ta phải luôn giữ vững Thành, Tín, sáng suốt nhận định thời cuộc và cả dám đảm đương trách nhiệm.
Đạo lý của dân Việt không dung thứ các thói xu mị, ươn hèn, tấc trách, Đạo lý ấy được tiêu biểu ở những tâm hồn cương quyết chiến đấu đến cùng, để chuyển hướng lịch sử và đưa các tầng lớp các bộ ưu tú của quốc dân đến toàn chân toàn thiện.
Đồng bào thân mến,
Tin tưởng mãnh liệt vào tiền đồ Tổ quốc, vào ngày chiến thắng không xa diệt trừ Cộng phỉ, chúng ta hãy gia tăng nổ lực và đề cao cảnh giác, để biến các giai đoạn thử thách hiện tại thành những tranh anh hung ca oanh liệt nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Xin ơn trên phù hộ chúng ta.
Xiada, 2017.10.26
Duy Phong Lê Đình Sơn
Nguồn tư liệu: Tuần san Công thương – Mãi (Mại) Saigon, số 276, năm 1962. Tư liệu lưu trữ tại Thư viện Nanyang Xueyuan (Học viện Nam Dương), Đại học Hạ Môn.

Thứ Ba, 24 tháng 10, 2017

Quan điểm của chủ nhân về vấn đề Lương tối thiểu

Chiều nay (24.10.2017), trong lúc tìm tài liệu tại Nanyang Xueyuan (Đại học Hạ Môn) thì thấy một tập tạp chí cũ, ngoài bìa đề: Tuần san Công thương – Mãi (Mại) Saigon, số 276. Nhìn qua thì biết ngay đây là hàng của Việt Nam Cộng Hòa, giở xem qua nội dung thì thấy, tuy đây là Tuần san về mảng Thương mại -  Kinh tế, nhưng bài viết thì lại được viết với một thái độ rất nghiêm cẩn, ngôn từ bình dị mà rõ ràng, nội dung được phân tích và lập luận rất chặt chẽ, đấy là điều mà báo giờ bây giờ ít người làm được.
Trong số 276 của Tuần san này, tôi thấy có một bài viết khá thú vị về vấn đề Lương tối thiểu, bài viết do Tuần san đứng trên “lập trường của giới chủ nhân – lời trong nội dung bài báo” để đưa ra quan điểm cho vấn đề Lương tối thiểu.
Theo nội dung bài viết, vấn đề Lương tối thiếu của giới cần lao (công nhân) không chỉ ảnh hưởng đến đời sống (vật chất & tinh thần) của chính giới cần lao; mà nó còn ảnh hưởng đến đời sống của các giới khác, như: nông dân, binh sĩ; cũng như công cuộc phát triển kinh tế quốc gia. Về việc điều chỉnh mức Lương tối thiểu của công nhân, cần phải nghiên cứu tỉ mỉ, dựa trên nguyên tắc về vật giá và các vật phẩm cần thiết cho đời sống.
Nội dung cụ thể, xin xem nội dung toàn văn bên dưới:

Quan điểm của chủ nhân về vấn đề Lương tối thiểu
(Tuần san Công thương – Mãi (Mại) Saigon, số 276 năm 1962, Việt Nam Cộng Hòa)
          Vừa qua, một sự việc đã được báo chí xem như một vấn đề thời sự quan trọng và theo dõi hằng ngày: đó là những cuộc thảo luận diễn ra tại Hội nghị Tư vấn Lao động.
Hội nghị này đã đề cập đến nhiều vấn đề có liên quan đến công cuộc kinh doanh của giới chủ nhân và giới công nhân toàn quốc, như: vấn đề lương tối thiểu, bảo hiểm tai nạn lao động, quỹ bù trừ v.v. Hội nghị đã được triệu tập dưới hình thức một Hội nghị tam giác, gồm có đại diện của giới chủ nhân, đại diện giới công nhân và đại diện chính quyền.
Dĩ nhiên những vấn đề nêu ra đều rất quan trọng, như báo chí đã nói, vì những vấn đề này có liên quan mật thiết đến công cuộc phát triển kinh tế quốc gia và mức sống của các giới khác, ví dự như: nông dân, binh sĩ, v.v.
Trước một vấn đề như vậy, thì lẽ ra Tuần san P.T.M (Phòng Thương mại), vốn là một cơ quan của giới chủ nhân, đã phải lên tiếng ngay khi cuộc thảo luận tiếp diễn, nhưng vì tôn trọng những ý kiến phát biểu giữa Hội nghị, tôn trọng những kỷ luật của Hội nghị, và nhất là không có ý tiết lộ những chi tiết của các cuộc thảo luận, để tránh sự hiểu nhầm, nên chúng tôi đã giữ thái độ im lặng đến nay, là ngày Hội nghị đã kết thúc.
Tất nhiên, những ý kiến và nhận xét của chúng tôi trình bày dưới đây, có thể xem như là lập trường của giới chủ nhân.
Xuyên qua tôn chỉ và mục đích của các tổ chức chủ nhân, chúng tôi có thể tuyên bố rằng hầu hết giới chủ nhân đều rất thông cảm với tình cảnh của giới cần lao, và giới chủ nhân vẫn chủ trương tôn trọng và tán thành những biện pháp nhằm nâng cao mức sống và nhân phẩm của cần lao, vì sự kiện này đánh dấu một bước tiến của xã hội, và theo sát chủ thuyếtĐồng tiến Xã hội của Chính Phủ.
Nhưng, ở đây, chúng tôi cũng cần trình bày quan điểm về các vấn đề đã thảo luận.
Trước nhất là vấn đề Lương tối thiểu.
Chúng tôi quan niệm rằng, muốn điều chỉnh mức lương tối thiểu của công nhân thì cần phải nghiên cứu kĩ lưỡng. Và sự nghiên cứu này phải được dựa trên những nguyên tắc vững chắc.
Nguyên tắc đó phải căn cứ vào:
a)     Vật giá
b)    Một số các vật phẩm cần thiết cho đời sống.
Như vậy, ta không thể căn cứ vào nhu cầu của con người, vì ta không thể ước lượng được nhu cầu này, bởi lẽ nhu cầu tâm lý luôn luôn chi phối tất cả những nhu cầu khác.
Nguyên tắc thứ nhì, là phải dự trên những chỉ số của Viện thống kê.
Người ta chỉ trích thống kê đưa ra những con số sai lầm. Nhưng suy luận ra, thì dù cho những con số thống kê có sai lầm, nhưng nguyên tắc nghiên cứu và điều tra để tìm ra chỉ số vẫn không thay đổi. Nếu nói Thống kê đưa ra những con số sai lầm thì chỉ số ấy đã sai lầm ngay từ năm 1956 cho tới nay.
Vậy, tỉ giá tăng giữa những chỉ số của năm 1956 và năm 1962 (nếu có sự gia tăng) vẫn đúng. Và suy như vậy thì ta thấy rõ là phủ nhận những chỉ số và tỷ lệ của Thống kê là lầm lẫn và sự phủ nhận ấy KHÔNG PHẢI là một lý luân chính đáng.
Vấn đề các vật phẩm cần thiết.
Ở Pháp, nguyên tắc tính chỉ số giá sinh hoạt (indice du cout de la vie) đã được căn cứ trên 270 vật phẩm, nhưng khi tính lương tối thiểu bảo đảm (S.M.I.M) thì người ta chỉ căn cứ trên 150 vật phẩm.
Giới chủ nhân Việt Nam cũng đã từng nghiên cứu giá sinh hoạt và chỉ số giá sinh hoạt theo những tiêu chuẩn thông thường, nên đã nhận thấy chỉ số vật giá của 6 tháng đầu năm 1962 và chỉ số vật giá của 6 tháng cuối năm 1956 và 6 tháng đầu năm 1956 đã tăng 7%.
Vì nhận xét như vậy, và vì muốn thực hiện mục tiêu Đồng tiến Xã hội, nên trong các cuộc thảo luận vừa qua, giới chủ nhân đã nhân nhượng và thể theo yêu cầu của Ủy ban Tư vấn, đã chấp thuận nguyên tắc TĂNG LƯƠNG GẦN 10%.
Có thể tỷ lệ gia tăng này không làm thỏa mãn giới lao động, nhưng giới chủ nhân vẫn tự hỏi, đã có lúc nào giới công nhân tự thấy thỏa mãn chưa?
Sở dĩ giới chủ nhân đã lấy chỉ số trung bình vật giá trong một thời gian ít nhất là 6 tháng – nếu không nói là một năm – là vì vật giá lên xuống bất thường.
Chúng tôi nghĩ rằng, cả giới chủ nhân lẫn công nhân không thể lấy chỉ số THẤP NHẤT HOẶC CHỈ SỐ CAO NHẤT trong một năm để làm căn bản so sánh.
Vì, dĩ nhiên như vậy tức là trái hẳn nguyên tắc thông kê, cũng như ta không thể căn cứ vào một vài món vật phẩm như gạo, thịt, than – là những vật phẩm vẫn lên giá, xuống giá rất bất thường, tùy theo tình hình an ninh tại các tỉnh cung cấp – để quả quyết rằng giá sinh hoạt đã tăng.
Và người ta cũng thể bỏ qua sự kiện có nhiều năm chỉ số sinh hoạt đã xuống thấp dưới chỉ số căn bản để quyết định lương tối thiểu, mà trong khi ấy lương tối thiểu vẫn không hề bị giảm sụt.
Như vậy, một thái độ khách quan, nhìn nhận chỉ số trung bình và giá sinh hoạt trung bình hẳn là một thái độ thực tế và phù hợp với quyền lợi của cả giới chủ nhân lẫn công nhân.

Tuần san Phòng Thương mại
 Xiada, 2017.10.24
Duy Phong Lê Đình Sơn

Nguồn tư liệu: Tuần san Công thương – Mãi (Mại) Saigon, số 276, năm 1962. Tư liệu lưu trữ tại Thư viện Nanyang Xueyuan (Học viện Nam Dương), Đại học Hạ Môn.

Thứ Tư, 30 tháng 8, 2017

Yêu quái núi Bình Sơn

Núi Bình Sơn
            Lại nói, một trưa nọ Duy Phong cùng đồng môn họ Vương đi uống rượu cạnh bến xe lửa, khi đã ngà say, cả hai đứng dậy ra về. Đi được một đoạn, họ Vương nảy ý muốn cuốc bộ qua núi Bình Sơn, vòng đường Tam quan đạo quán để về Hải Vận. Duy Phong bùi tai gật đầu, cả hai ngược lại nhằm hướng Bình Sơn loạng choạng bước.
            Núi Bình Sơn nằm sát ngay mé hữu bến xe lửa thành phố, núi tuy không cao nhưng được cái trùng điệp lên xuống tựa thế rắn trườn, chạy dài đến ba bốn chục dặm, từ trên núi có thể trông ra tận biển. Cây cối bốn mùa xanh um, muôn thú cũng toại kì sở trưởng. Trên núi có động Bích Liên, nghe nói là nơi trước đây Vô Vi đạo trưởng tu luyện đắc đạo. Động ấy đến nay vẫn còn, nhưng ít người tới lui, thành thử hương tàn khói lạnh, ảm đạm mà thương tâm. Chân núi giờ đây chung cư cũng mọc lên san sát, dân cư tuy đông đúc nhưng ít người lên núi, thành thử trên núi quanh năm tĩnh mịch, cỏ dại mọc lấn lối đi.
            Duy, Vương hai người men theo lối mòn ngay đầu đại lộ đi ngược lên núi, mới đầu đường lên còn thoải, bước đi còn lẹ, nhưng đường càng lúc càng dốc, cứ leo được chừng hơn trăm bước lại phải đứng lại thở lấy hơi. Lúc này giờ đã quá ngọ, trời nắng như đổ lửa, may thay gió núi vi vu, hương rừng thoang thoảng, men rượu cũng theo mồ hôi mà ra gần hết. Hai người lại đi chừng hơn hai dặm, bỗng thấy một vườn thanh mai (yangmei), trái nào trái ấy chín tươi, đỏ tía mọng nước, tựa như mời gọi. Đương lúc khát, lại thấm mệt, hai người tính mua ăn. Nhưng nhìn quanh tứ phía, không một bóng người, hai người đánh bạo vào hái ăn thử, tiền trảm hậu tấu. Hai người đương ăn, mới chừng được dăm trái, bỗng thấy hoa mày chóng mặt, chân tay bủn rủn, tựa như trúng gió, bất giác ngồi dưới gốc cây, lịm đi mà không hay biết. Chừng hai canh giờ sau, hai người dần tỉnh, hoảng quá liền dồn hết sức bình sinh, chạy nhanh xuống núi. Lúc qua Tam quan đạo quán, thấy mở cửa, hai người bảo nhau vào bái lễ. Đương toan ra về thì có một đạo trưởng râu tóc tốt tươi mà đen óng, tay cầm phất trần xuất hiện, hỏi mới biết là người trông nom đạo quán, tuổi tuy chưa đến tứ tuần mà đạo hạnh cao thâm. Thấy hai người mặt mũi phờ phệch, đạo trưởng ấy mời hai người vào khách đường uống trà đàm đạo, dò hỏi lai lịch, căn nguyên. Duy, Vương hai người đem chuyện ở vườn thanh mai nhất nhất kể lại, bỗng đạo trưởng ấy ồ lên thất sắc, nói:
            - Hẳn là hai người đã gặp phải yêu quái rồi đó. Chỗ vườn thanh mai hai người nói, trước đây vốn là một bãi tha ma, sơn nhân chết đều đem chôn ở đấy. Mấy năm nay không biết từ đâu xuất hiện một con yêu quái, chuyên hoành hành tạo nghiệt quanh đấy. Lạ thay, nó chỉ hại nam nhân, không hại nữ nhân. Hễ gặp nam nhân thì tạo ảo ảnh như hại vị thấy, khiến họ ngất đi, sau đó hút sạch dương khí, khiến cạn sức mà chết. Trước đây, có lần ta tương kế tựu kế, trá ngất để nhử yêu quái, mới biết đấy là một nữ yêu, hút dương khí nam nhân để tu luyện. Lần đó ta giao đấu với nó, mà chưa phân thắng phụ, từ đấy đến nay nó dè chừng hơn, ta mấy lần nhử mà không đặng, không ngờ nay lại xuất hiện để hại hai vị. Hai vị thực là đại phước, bằng không đã bị yêu hút sạch dương khí mà chết rồi.
            Duy, Vương hai người nghe nói mà toát mồ hôi hột, chắp tay cảm tạ trời đất. Đạo trưởng lấy từ trong tay áo ra một lọ nhỏ, mở nắp đổ ra tay hai hạt màu đỏ bé tựa hạt đậu, đưa cho mỗi người một viên, nói:
            - Đây là phục dương đan, có thể giúp hai người hồi phục lại dương khí.
            Hai người nghe vậy, vội uống ngay. Trong khoảng thời gian uống hết tuần trà, đã thấy sức lực trở lại, liền cảm tạ vị đạo trưởng thêm lần nữa. Đạo trưởng bảo hai người ngồi đợi, ra hậu viên hái hai trái đào, đưa cho hai người, dặn trở về tắm gội sạch sẽ, giờ Tý đêm ấy đem ra ăn, xong rồi ngồi xếp bằng, trong đầu không nảy tạp niệm, thì sáng ra sẽ hoàn toàn hồi phục, yêu khí cũng sẽ không còn.
            Hai người vái tạ đạo trưởng, vội xuống núi bắt xe bus về trường, vào nhà ăn gọi hai tô shachamian, ăn xong ai về kí túc người nấy, hẹn sáng hôm sau lên thư viện gặp mặt.
Hôm sau, trời vừa hửng, Duy, Vương hai người đã có mặt trước cổng thư viện, mặt mũi ai nấy đều hồng hào, sức tựa vật trâu, mừng mừng rỡ rỡ, bảo nhau từ sau không đi mạo hiểm nữa.
Hạ Môn, chiều 30 tháng 8 năm 2017.
Duy Phong Lê Đình Sơn

Thứ Ba, 1 tháng 8, 2017

Nhớ về hoa mướp

Hoa mướp trong mưa (Ảnh chụp tại Gulangyu - Hạ Môn)


Mấy độ vườn xưa vắng bóng huê,
Người đi sao mãi vẫn chưa về?
Vàng hoa xanh lá, tươi màu nắng,
Có nhớ những ngày, hoa mướp quê?
Xa nhà lâu, khi thoảng lại có cảm giác quê nhà dường như trở thành tha hương, tha hương lại bất chợt trở thành nơi quen thuộc. Bấy lâu lang bạt giang hồ, nay bỗng bắt gặp hình ảnh của những bông mướp vàng tươi trong cơn mưa phùn giữa một chiều hạ nơi xứ người, lòng lại không khỏi xốn xang, có gì đó vô hình lại thúc giục gã ngồi viết mấy dòng kể lể. Đúng là: giang hồ ta chỉ giang hồ vặt, thoáng bóng hoa thôi cũng nhớ nhà. :P
Mướp hay hoa mướp thì chẳng có gì lạ cả, nhất là đối với một đứa đi chân đất trưởng thành như gã, hay như nhiều người khác. Thế nhưng, đôi khi chính những gì thân quen nhất, giản dị nhất, một lúc nào đó lại trở nên đẹp đẽ nhất. Những hình ảnh về giàn mướp, dây mướp, hoa mướp, cho đến trái mướp, tất cả lại bỗng tươi mới trở lại trong não bộ vốn đã chai sạn của gã. Những hình ảnh đầu tiên về giàn mướp, có lẽ là hình ảnh về những cây tre, cây hóp được đặt ngang dọc ở góc ao nhà, và khi những bông mướp đầu tiên hé nở, những trái mướp dài thon thả cũng bắt đầu lủng lẳng trên mặt nước, thì đấy cũng chính là lúc bước vào kì nghỉ hè. Những trưa hè, ngồi trong túp lều lá bé tí ti trên mặt ao, ngắm nhìn những con rô con cờ tung tăng; hay những con chuồn chuồn ngán nắng đậu tạm trên một cành cây, bất chợt bay lên vì động rồi lại đậu xuống ngay. (Bà mẹ, bao giờ cho đến ngày xưa nhỉ?)
[…] Giàn mướp đầu tay của gã được dựng ngay trước sân, đấy cũng là giàn mướp gã nhớ nhất. Một vài sợi dây điện thoại được cột từ thân cây dừa ngay góc vườn kéo ngang ra cây trụ cổng và kéo xiên vào cây cột ngay đầu hè, trông như cái mạng nhện của một chú nhện vụng về, bên trên gác những nhánh nhánh tre được lấy về từ trên nhà Ngoại. Cuối xuân đầu hạ, những cây mướp non được ươm hạt ngay cạnh tường hoa, bên mé trái của cái giếng khơi, chúng đội đất nhô lên rồi cứ thế lớn nhanh như thổi. Cũng lạ, cây mướp không cần quá nhiều công chăm bẵm, chỉ cần khi thoảng đổ cho chúng mấy gầu nước, vậy mà chúng cứ xanh um giữa cái nắng của trưa tháng năm. Rồi từ những kẽ lá, những chùm hoa cứ thế tủa ra, cho đến một sớm mai thức dậy, bất giác vui sướng khi những cánh hoa đã điểm vàng cả buổi sớm hè. Hoa mướp đực sớm nở chiều lụi, chỉ có hoa cái sau khi được thụ phấn là phần bầu hoa dần phát triển thành trái, và độ một tuần sau đó là đã có thể ăn được. Chẳng biết có phải do mát tay hay không, mà giàn mướp năm đó gã trồng nó sai quá trời, trái trái ấy lúc nào cũng cứ lủng lẳng, đi không cần thận là va trúng cũng nên. Giàn mướp do chính tay gã trồng, từ lúc ươm hạt, tưới tắm cho đến khi nó bị một cơn bão đánh sập trong một buổi chiều hè. Bão qua, nhà gã có dựng lại giàn mướp đó, nhưng do thân cây chính bị dập, nên sau đó cũng ít trái dần đi, khiến gã tiếc mãi. Cũng may, trái mướp để giống cho vụ sau không hề hấn gì, đợi đến khi hết vụ, khi đã khô thì nó sẽ được cắt mà gác lên gác bếp, đợi đến vụ sau ươm giống.
Mướp là loài cây thân quen, nhiều tác dụng. Từ hoa, lá, quả, thân cây, rễ, đều có những tác dụng riêng của chúng. Lá mướp vò với muối trị nước ăn chân; sơ mướp dùng để làm miếng cọ xoong nồi; ngọn mướp, hoa mướp, trái mướp có thể dùng làm thức ăn. Ngọn và hoa đem xào hoặc luộc; trái đem nấu canh cua cùng rau đay và rau mồng tơi, ăn kèm với cà pháo thì thực là có cha có mẹ, v.v. Người ta cứ thích mướp xào với những thứ như lòng gà, mề gà các kiểu; riêng gã lại thích món canh mướp nấu với lạc giã nhỏ. Ngày trước, gã thấy người ta cứ để trái to hết cỡ mới thu hoạch, còn bây giờ trái bằng cán dao, cán liềm là đã thu hoạch, ấy cũng là đời sống bây giờ khá hơn trước […].
[…] Hình ảnh giàn mướp cũng gắn liền với những đêm hè, khi ánh đèn dần tắt, tiếng người dần hết, chỉ còn lại ánh sao trời lấp lánh, tiếng gió thổi vi vu, khi thoảng một vài anh đóm lại lên đèn đi gác. Rồi thoảng lại vẳng lên tiếng chó sủa ở phía xa xa, rồi tiếng ếch nhái, tiếng dế, tiếng trùng khi thoảng lại tấu lên từng khúc. Đầu làng cuối thôn, tụi trẻ con chơi trò trốn tìm khi thoảng lại cãi nhau ỏm tỏi, khi thoảng cũng rộ lên tiếng cười của mấy bác ngồi hóng gió, hay tiếng gọi đem cái “Dạ!” về đi ngủ khi thoảng lại vang lên.
Mưa rơi viết vội mấy lời!
Hạ Môn, ngày đầu tiên của tháng 8 năm 2017.
Duy Phong Lê Đình Sơn 

Thứ Tư, 14 tháng 6, 2017

Hòa thượng Ngộ Không

Tháp Ngộ Không (nguồn: Internet)

Sách vở của Trung Quốc xưa nay vốn ghi chép ít nhất đến hai nhân vật Ngộ Không, một Ngộ Không thần thánh đại náo thiên cung xuất hiện trong Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân, và một hòa thượng pháp danh Ngộ Không thời Đường từng sang Ấn Độ thỉnh kinh và phiên dịch kinh Phật. Bài biên - dịch – tổng hợp này tập trung nói đến Hòa thượng Ngộ Không – rất có thể đây là một trong những nền tảng để sau này Ngô Thừa Ân xây dựng nên nhân vật Tề Thiên Đại Thánh Tôn Ngộ Không.
Về những thông tin có liên quan đến Hòa thượng Ngộ Không, hiện còn có thể xem tại một số sách như: Ngộ Không nhập Trúc ký 《悟空入竺记》 (gọi tắt là Nhập ký《入记》) của Hòa thượng Viên Chiếu圆照đời Đường, Cao tăng truyện – Thượng đô Chương Kính tự Ngộ Không truyện《宋高僧传·上都章敬寺悟空传》(gọi tắt là Ngộ Không truyện《悟空传》) của Hòa thượng Tán Ninh 赞宁 đời Tống. Ngoài ra, những dấu tích còn lại tại miếu Ngộ Không tại núi Ta Nga, huyện Kính Dương, tỉnh Thiểm Tây, cũng như tấm bia Đại Minh tân kiến Ta Nga sơn trung Ngũ Đài Chấn Tích tự Đường Ngộ Không thiền sư chi tháp minh ký《大明新建峨山中五台振锡寺唐悟空禅师之塔铭记》(gọi tắt là Minh ký 《铭记》) khắc vào năm Gia Tĩnh thứ 20 triều Minh (năm 1541).
1.     Thân thế của Hòa thượng Ngộ Không
[Hòa thượng] Ngộ Không, tục tính Xa, tên là Phụng Triều. Ngài còn có cựu danh là Pháp Giới[1], Ngộ Không là pháp hiệu của Ngài. Hòa thượng Ngộ Không sống vào thời Đường, vốn là người huyện Vân Dương, đất Kinh Triệu (nay là vùng tây bắc huyện Kinh Dương, tỉnh Thiểm Tây). Tổ tiên Ngài vốn họ Thác Bạt, tộc Tiên Ty, dưới thời Bắc Ngụy. Hòa thượng Ngộ Không thông minh tính trời, ham đọc sách vở của người Hán, từ bé đã nổi danh một vùng. Về việc xuất gia của Ngài, cũng ẩn chứa khá nhiều tình tiết li kì.
2.     Nhân duyên xuất gia
Mới đầu, Hòa thượng Ngộ Không vốn nhậm một chức quan nhỏ trong triều[2], khoảng niên hiệu Thiên Bảo năm thứ 10 đời vua Đường Huyền Tông, Ngài phụng chỉ cùng nhóm quan Trung sử là bọn Trương Thao Quang đi sứ đến đất Tân (nay là Kashmir)[3]. Cả nhóm đi từ trung lộ con đường tơ lụa, đi qua An Tây (nay là huyện Khố Xa), vượt qua cao nguyên Bạc Mĩ Nhĩ (dãy Pamirs), trải qua muôn ngàn gian khổ, cuối cùng cũng đến được Đông đô Kiện Đà La (Gandhara) của đất Tân (Kashmir). Thực chẳng may, lúc đoàn chuẩn bị lên đường trở về thì Ngài lại ngã bệnh, không thể lên đường trở về cùng sứ đoàn. Do đó, Ngài phát nguyện, nếu như khỏi bệnh, nguyện xuống tóc đi tu. Không ngờ, ít lâu sau Ngài khỏe lại, để thực hiện thệ nguyện trước đó, Ngài đã bái Tam Tạng pháp sư Xá Lợi Việt Ma làm thầy, và xuống tóc đi tu ngay tại chùa Kiện Đà La, lấy pháp danh là Đạt Ma Đà (nghĩa là: Pháp Giới[4]).
3.     Thấu triệt Phật pháp, đường về gian nan
Sau khi xuất gia, Ngài ở lại chùa Na Lạn Đà học kinh trong suốt 3 năm, lúc bấy giờ là niên hiệu Chí Đức năm thứ 2 đời vua Đường Túc Tông (năm 757), lúc này Ngài mới 27 tuổi.
Trong khoảng thời gian này, Ngài từng đi khắp các nước Bắc Thiên Trúc và Trung Thiên Trúc (thuộc cổ Ấn Độ), tìm thăm Phật tích, học Phạn văn, đến chùa Khả Đôn[5]. Cứ như vậy, Ngài tuần lễ mất hơn 4 năm, thế rồi: nhớ mong triều đình, phụ mẫu song sinh, anh em nội ngoại, trong lòng không yên, Ngài phát nguyện trở về cố quốc, nhưng lúc đầu Pháp sư Tam Tạng không đồng ý để Ngài về. Nhưng Ngài nhiều lần thỉnh xin, tấm lòng thành khẩn của Ngài khiến Xá Lợi Việt Ma động lòng mà chấp thuận lời thỉnh cầu của Ngài, lại còn tự tay đem ba bộ kinh quý bằng Phạn văn gồm Thập địa kinh, Thập lực kinh, Hồi hướng kinh luận, cùng với một chiếc răng xá lị của Đức Phật, gói gém lại vào một chiếc rương, để Ngài đem về dâng tặng triều đình.
Theo Nhập Trúc ký ghi chép, Hòa thượng Ngộ Không đi theo con đường trước đây để trở về, khi đi qua nước Cốt Thổ (nay là vùng tây nam của Tajikistan) cách Thành Đông không xa thì gặp một biển nhỏ nhưng nước cực sâu. Lúc này, Long Vương biết có xá lị, liền làm mưa làm gió, sấm ngang chớp dọc. Bên bờ biển có một đại thụ, Ngộ Không cùng các thương nhân ngồi tránh dưới gốc cây, bỗng nhiên cành lá rơi rụng, ai nấy thất kinh. Lúc này, thủ lĩnh đoàn thương nhân lên tiếng: “Ai giữ xá lị? Tại sao lại khiến Long thần nổi giận như vậy? Hãy mau lấy ra, ném xuống biển! Để mọi người khỏi phải chịu những điều kinh sợ như vậy!” Lúc này, Ngộ Không thành tâm khẩn nguyện, nguyện: lợi lạc bản quốc, tế độ bang gia, tất thảy nhân do, đều nhờ Long thần. Ngài thành khẩn khấn nguyện từ sớm đến trưa, khiến Long thần cảm động, và rồi trời quang mây tạnh. Mọi người nhờ đó mà vượt biển an toàn.
Hòa thượng Ngộ Không vượt qua Hưng Đô Khố Thậm Sơn興都庫什山 (Hindu Kush Mountains) và Ngõa Cốc Hàm瓦穀函thuộc A Phú Hãn阿富汗 (Afghanistan) để vào Tân Cương. Trước tiên, Ngài đến huyện Sơ Lặc (nay là vùng Khách Thập), quốc vương Bùi Lãnh Lãnh 裴冷冷, Trấn thủ sứ Lỗ Dương, mời Ngài ở lại 5 tháng. Tiếp đó đến đất Điền, tên tiếng Phạn khi đó là Cồ Tát Đát Na瞿薩怛那 (tức Kusthana, nhà Đường khi đó gọi là nước Địa Nhũ地乳國), quốc vương Úy Trì Diệu尉遲曜, Trấn thủ sứ Trịnh Cứ鄭據 mời Ngài ở lại 6 tháng. Lại đến đất Cưu Tư (nay là huyện Khố Xa), tứ trấn Tiết độ sứ, An Tây phó đại đô hộ kiêm Ngự sử đại phu Quách Hân, Sa môn chùa Ứng Liên Hoa là Vật Đề Đề Tê Ngư thành khẩn thỉnh cầu, Ngài lại dùng khoảng thời gian một năm để dịch bộ Thập lực kinh. Ngại lại đến đất Yên Kỳ, lại được quốc vương đất Yên Kỳ là Long Như Lâm龍如林, Trấn thủ sứ Dương Nhật Giang楊日杠 khoản đãi và mời ở lại ba tháng. Khi đó, do chiến loạn nên đường Hà Tây không thông suốt, khoảng đến năm Đại Lịch thứ 9 (774), Hòa thượng Ngộ Không lại mới chuyển qua đường phía bắc[6]. Khi tới Bắc Đình đô hộ phủ, Bắc Đình Tiết độ sứ kiêm Ngự sử đại phu Dương Tập Cổ vốn là tín đồ Phật môn, cũng rất hoan nghênh chào đón Ngài. Lại còn đề xướng chúng tăng chùa Long Hưng龍興寺, lấy Ngài làm đại diện; cùng với Sa môn hai tạng Điêu, Điền là Thi La Đạt Ma屍羅達摩 (âm Đường khi đó là Giới Pháp戒法); cùng nhau dịch bộ Thập Địa Kinh và bộ Hồi hướng kinh luận. Do đường về gặp trúc trắc, do đó hòa thượng Ngộ không chỉ đành lưu lại thêm mươi năm tại Bắc Đình. Trong khoảng thời gian ở đây, Hòa thượng Ngộ Không còn gặp lại bọn tứ trấn Bắc đình Tuyên úy trung sử Đoàn Tú Minh. Việc hòa thượng Ngộ Không ở lại Bắc đình, đã mở ra một trang mới cho Phật giáo sử Bắc đình.
4.     Trở về Tràng An
Ngày 12 tháng 5 niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ 5 (năm 789), quan Tiết độ nha áp tấu sự Bắc Đình là Ngưu Hân cùng quan Đạo sự An Tây đạo sự là Trình Ngạc, cùng Trung sứ Đoàn Tú Minh, theo đường qua đất Hồi Cốt để trở về. Nhưng do Khả Hãn của Hồi Cốt không tín Phật giáo, nên tất thảy những kinh thư bằng Phạn văn đem theo đều phải để lại chùa Long Hưng ở Bắc Đình, đoàn chỉ đem theo kinh thư bằng chữ Hán đi, trải thời gian chừng 5 tháng, đến chừng tháng 6 niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ 6 (năm 790), mới an toàn về đến kinh đô Tràng An. Đường Đức Tông sắc lệnh cho Dược Long Môn sứ viện thu xếp ổn thỏa cho các Ngài. Trung sứ Đoàn Tú Minh liền đem những kinh Phật đã dịch được, cùng với chiếc răng xá lị của đức Thích Ca Mâu Ni dâng lên. Ngày 15 tháng 5, triều đình phong cho Xa Phụng Triều pháp danh Ngộ Không, đồng thời ban cho Ngài làm Đỗ Vũ tướng quân thủ Kim Ngô Vệ đại tướng quân viên ngoại trí và Đồng chính viên kiêm Thí thái thường khanh, để biểu dương việc Ngài đã xả thân cầu pháp và tấm lòng trung quân ái quốc của Ngài. Ngộ Không nhập Trúc ký chép cụ thể như sau: niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ 6 nhà Đường (năm 794), Pháp Giới trở về kinh đô Tràng An, đem chiếc răng xá lị của Đức Phật dâng lên Đường Đức Tông, Đức Tông ban tặng cho Ngài pháp danh Ngộ Không. 《悟空入竺記》:唐貞元六年(西元790年)法界回到長安,將佛牙進獻唐德宗,德宗賜名悟空。Đại Trang Nghiêm tự tân tu Phật nha bảo tháp ký cũng ghi: niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ 10 (năm 794), pháp sư Ngộ Không đem [xá lị] răng Phật dâng tại chùa Đại Trang Nghiêm chốn Tràng An, [đồng thời] cho sửa sang mới lại Tháp răng Phật. 《大莊嚴寺新修佛牙寶塔記》:貞元十年(西元794年)悟空佛牙移奉長安大莊嚴寺,新修佛牙寶塔。
Hòa thượng Ngộ Không đi Ấn Độ thỉnh kinh, trải qua khoảng thời gian hơn 40 năm, đi qua 58 quốc gia và vùng lãnh thổ (lúc bấy giờ), đem về 3 bộ kinh Phật bằng chữ Phạn, gồm: Thập địa kinh, Thập lực kinh, Hồi hướng kinh luận; đồng thời, trên đường đi Ngài cũng đã tiến hành phiên dịch sang chữ Hán 11 quyển, tương đương 129 trang; kế thừa Pháp Hiển, Huyền Trang và Nghĩa Tránh, trở thành một phiên dịch gia và lữ hành gia.
5.     Những năm cuối đời
Những năm cuối đời, hòa thượng Ngộ Không sống ở chùa Chương Kính tại kinh đô Tràng An. Khi tuổi đã ngoài 70, Ngài bỗng nhớ nhà da diết, nên quyết tâm trở về thăm quê hương bản quán. Đáng tiếc rằng, khi Ngài trở về thì phụ mẫu cùng thân thích đã không còn ai trên đời. Ngài đau khổ vô cùng, hận vì không thể phụng dưỡng song thân. Khoảng cuối niên hiệu Trinh Nguyên (năm 805), Ngài viên tịch, thọ 75 tuổi[7]. Một đời hoằng dương Phật pháp, đi Ấn Độ thỉnh kinh, phiên dịch kinh Phật, những đóng góp của Ngài trong việc giao lưu văn hóa giữa Trung nguyên (Trung Quốc) với bên ngoài là vô cùng quan trọng. Ngài trở thành vị pháp tăng cuối cùng đi Ấn Độ thỉnh kinh hiện còn được sử sách ghi chép lại.
6.     Ngộ Không nhập Trúc ký《悟空入竺記》- ghi chép còn lại
Hòa thượng Ngộ Không trở về kinh đô Tràng An ít lâu sau, cao tăng Viên Chiếu đã đến hỏi han và biên chép lại quá trình Ngài đi khắp Thiên Trúc và hành trình trở về của Ngài, biên thành sách Kinh hành ký《經行記》, còn gọi là Ngộ Không nhập Trúc《悟空入竺記》, được đưa vào Trinh Nguyên Thích giáo lục《貞元釋教錄》, tiếc rằng đến nay sách đã thất truyền. Tuy nhiên, về đại lược thì vẫn có thể tham khảo những nội dung có liên quan trong sách Cao Tăng truyện《高僧傳》của Huệ Giảo 慧皎  để biết. Sách ấy không chỉ khái quát và giới thiệu về nguồn gốc cũng như sự phân bố của Phật giáo Ấn Độ; cũng như khái quát và giới thiệu về chính trị, kinh tế và văn hóa của các nước; thậm chí là trung Hà Tây do loạn An – Sử mà bị đứt đoạn, nhà Đường và các nước vùng Tây vực cũng do đó mà mất liên hệ. Ngộ Không nhập Trúc ký《悟空入竺記》cũng ghi chép lại đầy đủ một số vùng đất quan trọng vùng Tây vực dưới đời Đường, nhưng vẫn thiết lập quan viên, kiên trì gìn giữ biên cương, cho đến tình hình liên lạc giữa những quan viên các vùng ấy với triều đình, giúp cho chúng ta hiểu thêm hơn về những mối quan hệ giữa triều đình nhà Đường với vùng Tây vực, cung cấp một tư liệu lịch sử quan trọng, bổ sung cho những khuyết thiếu của chính sử.
7.     Miếu Ngộ Không – chứng tích còn sót lại
Theo Kính Dương huyện chí 《泾阳县志》và văn bia còn lưu lại: thôn Quan Đạo tại trấn Khẩu, huyện Kính Dương, xưa kia gọi là thôn Tiên Pháp. Miếu Ngộ Không tại thôn này (thôn Quan Đạo, trước là thôn Tiên Pháp) còn được gọi là miếu Đại Thánh, tọa lạc ngay tại mé nam của thôn, miếu [Đại Thánh] này mới được xây dựng vào những năm niên hiệu Vạn Lịch đời vua Minh Thần Tông, đến nay cũng đã có hơn 400 năm lịch sử. Cách miếu khoảng 10 km về phía đông bắc là núi Ta Nga (xưa gọi là núi Kinh Sơn, Bút Giá sơn – tức núi có hình dáng giá bút), trên núi là chùa Chấn Tích và Tháp hỏa cốt Ngộ Không; cách miếu [Đại Thánh] chừng 10 km về phía đông là mộ của Đường Đức Tông Lý Thích – người đã ban pháp hiệu Ngộ Không. Cả ba tạo thành thế hô ứng lẫn nhau.
Tương truyền, xưa kia miếu Đại Thánh có kiến trúc rất hoành tráng, được xây dựng trên khuôn viên rộng hơn 20 mẫu. Cùng với sự đổi thay của lịch sử, đến chừng cuối đời Thành, miếu Đại Thánh chỉ còn là một thể kiến trúc với 3 tòa 11 gian, và một lầu hát. Miếu Đại Thánh ngoảnh hướng tây, chính diện cửa vào miếu là pho tượng Ngộ Không cao chừng 6 thước (chừng 1m8), [tượng] tọa lạc ngay tại tòa cuối cùng. Xét về pho tượng: hai mắt khẽ mở, hai tay hợp chưởng, thân khoác cà sa, tỏa ánh hào quang. Phía sau pho tượng, là tạo hình của Thủy Liêm Động tại Hoa Quả Sơn, trên tường vẽ mấy bức tranh miêu tả lại một số câu chuyện về Ngộ Không và quá trình đi Tây thiên thỉnh kinh. Hai mé nam bắc của chính điện Ngộ Không, là các Thiện phòng, là nơi tăng chúng thường đến tụng kinh. Trước [đại] điện là 5 gian đại sảnh, rộng chừng trăm mét vuông, xung quanh treo đầy những nội quy, với những biển gỗ nhiều màu sắc khác nhau. Trong đó có một tấm có niên đại sớm nhất là vào năm Sùng Trinh thứ 15, do Vương Chí Vân tặng. Bức lớn nhất dài chừng 8 thướng, rộng chừng 3 thước, đế xanh chữ vàng, trên đề 4 chữ đại tự “bảo ngã xích tử[8]”. Số còn lại, hầu hết là các bức biển có niên đại vào đời Thanh, nội dung đại loại như: hữu cầu tất ứng, uy linh hiển thánh, … Chính giữa đại sảnh là một cây ô “vạn nhân tản[9]”, dùng đủ loại màu sắc kì dị và đề tên các kiểu tạo thành, thực là vừa đẹp đẽ lại vừa khoáng đạt, vô cùng tinh tế.Trước đại sảnh là ba gian được xây dựng theo lối kiến trúc yết sơn[10], ở giữa là nhà giữa[11],  hai bên là hai toàn giải vũ, là nơi ở thường ngày của trụ trì, mỗi khi có lễ hội thì dùng để tiếp đãi khách khứa […]. Đáng tiếc, tượng Ngộ Không trong miếu đã bị phá hủy vào mùa thu năm 1967, đấy là một sự tổn thất vô cùng to lớn. Đến nay, chỉ còn lại di chỉ chùa Chấn Tích và Tháp Linh Cốt, những văn vật cổ tích khác đều đã bị phá vào những năm 1967 – 1968.
8.     Tạm kết
Như vậy, từ những ghi chép còn lại của sách vở cũng như những dấu tích còn lưu lại, đến giờ chúng ta có thể biết rằng, trong thư tịch cổ Trung Quốc vốn tồn tại hai nhân vật Ngộ Không: một Ngộ Không thần thánh trong trong Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân và một Ngộ Không bằng da bằng thịt chân thực – một Hòa thượng sống vào đời Đường đã từng đi Tây thiên thỉnh kinh và phiên dịch kinh Phật.
Từ những ghi chép còn lại về Hòa thượng Ngộ Không, cho đến những chi tiết trong Tây Du Ký, chúng ta có thể tạm thời đưa ra kết luận rằng, hai nhân vật Ngộ Không này hoàn toàn có liên hệ mật thiết với nhau. Rất có thể, Ngô Thừa Ân đã xâ dựng nhân vật Tề Thiên Đại Thánh Tôn Ngộ Không dựa trên nhân vật Hòa thượng Ngộ Không.
Hạ Môn, ngày 15 tháng 6 năm 2017.
Lê Đình Sơn biên dịch và tổng hợp

Nguồn:
9.      



[1] Pháp Giới là pháp hiệu mà khi xuất gia Ngài được sư phụ là Tam Tạng ban cho.
[2] Khi nhập cung nhậm chức, hòa thượng Ngộ Không mới chỉ 19 tuổi.
[3] Khi lĩnh chỉ đi sứ, lúc này hòa thượng Ngộ Không mới chỉ 21 tuổi, tức là sau 2 năm nhập cung nhậm chức.
[4] Pháp Giới là pháp hiệu mà khi xuất gia Ngài được sư phụ là Tam Tạng ban cho.
[5] Khả Đôn vốn là ngôi chùa do Hoàng hậu Đột Quyết xây dựng, có hơn 300 gian Già Lam, linh tháp thụy tượng vô số.
[6] Nguyên văn chữ Hán làBắc đạo 北道, thời cổ dùng để trỏ một trong những con đường chính để đi từ Trung nguyên qua Tây vực.
[7] Có thuyết nói rằng hòa thượng Ngộ Không viên tịch tại chùa Hộ Pháp kinh đô Tràng An, thọ 82 tuổi. đối với thuyết này, hiện chúng tôi chưa tìm ra chứng cứ bác bỏ, nên chú lại đây tham khảo.
[8] Xích tử, tức là trỏ lê dân bá tánh. Bảo ngã xích tử, ý nói bảo vệ, phù trợ cho dân chúng.
[9] Vạn nhân tản: thời xưa, những vị quan thanh liêm, yêu dân như con, được nhân dân tôn kính, do đó dân chúng cùng nhau góp tiền làm một cây ô to để che nắng, bên trên có đề tên những người góp tiền làm ô, dùng để tặng cho vị quan thanh liêm đó. Ý rằng được dân chúng ủng hộ và mến mộ, vị quan thanh liêm đó cũng coi đó làm vẻ vang. Chiếc ô cũng được coi như vật kỷ niệm khi nhậm quan vậy.
[10] Yết sơn thức kiến trúc 歇山式建筑 hay còn gọi là Yết sơn đỉnh歇山顶, là một lối kiến trúc ưu mỹ thời xưa, chân mái gồm có 4 mặt trước – sau – phải - trái, nhưng trên cùng đỉnh nóc thường chỉ có 2 mái trước sau.
[11] Quá sảnh 过厅: Theo kiến trúc xưa, thường xây dựng theo lỗi trước – giữa – sau, trong đó, tòa giữa nối tòa trước và tòa sau, dó đó được thiết kế cửa thông với gian trước và gian sau. Quá sảnh còn được gọi là gian giữa.