Chiều nay (24.10.2017), trong lúc tìm tài liệu tại Nanyang
Xueyuan (Đại học Hạ Môn) thì thấy một tập tạp chí cũ, ngoài bìa đề: Tuần san Công
thương – Mãi (Mại) Saigon, số 276. Nhìn qua thì biết ngay đây là hàng của Việt
Nam Cộng Hòa, giở xem qua nội dung thì thấy, tuy đây là Tuần san về mảng Thương
mại - Kinh tế, nhưng bài viết thì lại được
viết với một thái độ rất nghiêm cẩn, ngôn từ bình dị mà rõ ràng, nội dung được phân
tích và lập luận rất chặt chẽ, đấy là điều mà báo giờ bây giờ ít người làm được.
Trong số 276 của Tuần san này, tôi thấy có một bài viết khá
thú vị về vấn đề Lương tối thiểu, bài
viết do Tuần san đứng trên “lập trường của giới chủ nhân – lời trong nội dung
bài báo” để đưa ra quan điểm cho vấn đề Lương tối thiểu.
Theo nội dung bài viết, vấn đề Lương tối thiếu của giới cần
lao (công nhân) không chỉ ảnh hưởng đến đời sống (vật chất & tinh thần) của
chính giới cần lao; mà nó còn ảnh hưởng đến đời sống của các giới khác, như:
nông dân, binh sĩ; cũng như công cuộc phát triển kinh tế quốc gia. Về việc điều
chỉnh mức Lương tối thiểu của công nhân, cần phải nghiên cứu tỉ mỉ, dựa trên
nguyên tắc về vật giá và các vật phẩm cần thiết cho đời sống.
Nội dung cụ thể, xin xem nội dung toàn văn bên dưới:
Quan điểm của chủ nhân về vấn đề Lương tối thiểu
(Tuần san Công thương –
Mãi (Mại) Saigon, số 276 năm 1962, Việt Nam Cộng Hòa)
Vừa
qua, một sự việc đã được báo chí xem như một vấn đề thời sự quan trọng và theo
dõi hằng ngày: đó là những cuộc thảo luận diễn ra tại Hội nghị Tư vấn Lao động.
Hội nghị này đã đề cập đến nhiều vấn đề có liên quan đến công
cuộc kinh doanh của giới chủ nhân và giới công nhân toàn quốc, như: vấn đề
lương tối thiểu, bảo hiểm tai nạn lao động, quỹ bù trừ v.v. Hội nghị đã được
triệu tập dưới hình thức một Hội nghị tam giác, gồm có đại diện của giới chủ
nhân, đại diện giới công nhân và đại diện chính quyền.
Dĩ nhiên những vấn đề nêu ra đều rất quan trọng, như báo chí
đã nói, vì những vấn đề này có liên quan mật thiết đến công cuộc phát triển
kinh tế quốc gia và mức sống của các giới khác, ví dự như: nông dân, binh sĩ, v.v.
Trước một vấn đề như vậy, thì lẽ ra Tuần san P.T.M (Phòng
Thương mại), vốn là một cơ quan của giới chủ nhân, đã phải lên tiếng ngay khi
cuộc thảo luận tiếp diễn, nhưng vì tôn trọng những ý kiến phát biểu giữa Hội
nghị, tôn trọng những kỷ luật của Hội nghị, và nhất là không có ý tiết lộ những
chi tiết của các cuộc thảo luận, để tránh sự hiểu nhầm, nên chúng tôi đã giữ
thái độ im lặng đến nay, là ngày Hội nghị đã kết thúc.
Tất nhiên, những ý kiến và nhận xét của chúng tôi trình bày
dưới đây, có thể xem như là lập trường của giới chủ nhân.
Xuyên qua tôn chỉ và mục đích của các tổ chức chủ nhân, chúng
tôi có thể tuyên bố rằng hầu hết giới chủ nhân đều rất thông cảm với tình cảnh
của giới cần lao, và giới chủ nhân vẫn chủ trương tôn trọng và tán thành những
biện pháp nhằm nâng cao mức sống và nhân phẩm của cần lao, vì sự kiện này đánh
dấu một bước tiến của xã hội, và theo sát chủ thuyết《Đồng tiến Xã hội》 của Chính Phủ.
Nhưng, ở đây, chúng tôi cũng cần trình bày quan điểm về các vấn
đề đã thảo luận.
Trước nhất là vấn đề Lương tối thiểu.
Chúng tôi quan niệm rằng, muốn điều chỉnh mức lương tối thiểu
của công nhân thì cần phải nghiên cứu kĩ lưỡng. Và sự nghiên cứu này phải được
dựa trên những nguyên tắc vững chắc.
Nguyên tắc đó phải căn cứ vào:
a)
Vật giá
b)
Một số các vật phẩm cần thiết cho đời sống.
Như vậy, ta không thể
căn cứ vào nhu cầu của con người, vì ta không thể ước lượng được nhu cầu
này, bởi lẽ nhu cầu tâm lý luôn luôn chi
phối tất cả những nhu cầu khác.
Nguyên tắc thứ nhì, là phải dự trên những chỉ số của Viện thống
kê.
Người ta chỉ trích thống kê đưa ra những con số sai lầm.
Nhưng suy luận ra, thì dù cho những con số thống kê có sai lầm, nhưng nguyên tắc
nghiên cứu và điều tra để tìm ra chỉ số vẫn không thay đổi. Nếu nói Thống kê đưa ra những con số sai lầm
thì chỉ số ấy đã sai lầm ngay từ năm 1956 cho tới nay.
Vậy, tỉ giá tăng giữa những chỉ số của năm 1956 và năm 1962
(nếu có sự gia tăng) vẫn đúng. Và suy như vậy thì ta thấy rõ là phủ nhận những
chỉ số và tỷ lệ của Thống kê là lầm lẫn và sự phủ nhận ấy KHÔNG PHẢI là một lý luân chính đáng.
Vấn đề các vật phẩm cần thiết.
Ở Pháp, nguyên tắc tính chỉ số giá sinh hoạt (indice du cout
de la vie) đã được căn cứ trên 270 vật phẩm, nhưng khi tính lương tối thiểu bảo
đảm (S.M.I.M) thì người ta chỉ căn cứ trên 150 vật phẩm.
Giới chủ nhân Việt Nam cũng đã từng nghiên cứu giá sinh hoạt
và chỉ số giá sinh hoạt theo những tiêu chuẩn thông thường, nên đã nhận thấy chỉ
số vật giá của 6 tháng đầu năm 1962 và chỉ số vật giá của 6 tháng cuối năm 1956
và 6 tháng đầu năm 1956 đã tăng 7%.
Vì nhận xét như vậy, và vì muốn thực hiện mục tiêu Đồng tiến
Xã hội, nên trong các cuộc thảo luận vừa qua, giới chủ nhân đã nhân nhượng và
thể theo yêu cầu của Ủy ban Tư vấn, đã chấp thuận nguyên tắc TĂNG LƯƠNG GẦN 10%.
Có thể tỷ lệ gia tăng này không làm thỏa mãn giới lao động, nhưng
giới chủ nhân vẫn tự hỏi, đã có lúc nào giới công nhân tự thấy thỏa mãn chưa?
Sở dĩ giới chủ nhân đã lấy chỉ số trung bình vật giá trong một
thời gian ít nhất là 6 tháng – nếu không nói là một năm – là vì vật giá lên xuống
bất thường.
Chúng tôi nghĩ rằng, cả giới chủ nhân lẫn công nhân không thể
lấy chỉ số THẤP NHẤT HOẶC CHỈ SỐ CAO NHẤT
trong một năm để làm căn bản so sánh.
Vì, dĩ nhiên như vậy tức là trái hẳn nguyên tắc thông kê,
cũng như ta không thể căn cứ vào một vài món vật phẩm như gạo, thịt, than – là những
vật phẩm vẫn lên giá, xuống giá rất bất thường, tùy theo tình hình an ninh tại
các tỉnh cung cấp – để quả quyết rằng giá sinh hoạt đã tăng.
Và người ta cũng thể bỏ qua sự kiện có nhiều năm chỉ số sinh
hoạt đã xuống thấp dưới chỉ số căn bản
để quyết định lương tối thiểu, mà trong khi ấy lương tối thiểu vẫn không hề bị
giảm sụt.
Như vậy, một thái độ khách quan, nhìn nhận chỉ số trung bình
và giá sinh hoạt trung bình hẳn là một thái độ thực tế và phù hợp với quyền lợi
của cả giới chủ nhân lẫn công nhân.
|
Tuần san Phòng Thương mại
Xiada, 2017.10.24
Duy Phong Lê Đình Sơn
|
 |
Nguồn tư liệu: Tuần san Công thương – Mãi (Mại)
Saigon, số 276, năm 1962. Tư liệu lưu trữ tại Thư viện Nanyang Xueyuan (Học viện
Nam Dương), Đại học Hạ Môn.
|