Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2018

Tình Nhân Cốc 廈大情人谷


           Tư Nguyên Cốc, trước đây vốn là Tình Nhân Cốc. Sau năm Tân Mão, để kỷ niệm cựu sinh viên đã chung tay góp sức nạo vét, tu sửa lại cảnh quan hồ, trường quyết định đổi tên cốc từ Tình Nhân sang Tư Nguyên. Đồng thời, cho khắc ba chữ Tư Nguyên Cốc vào đá để ghi nhớ. Ý nói: uống nước nhớ nguồn, không quên trường cũ đó vậy.

Tư Nguyên Cốc 思源谷 (ảnh chụp hè 2017)
           Ngày mới đến, tôi đã nghe mọi người nói nhiều về Cốc, trong lòng vốn đã thầm thích, nhưng phải sau đó ít lâu mới có dịp đánh đường lên xem thử.

Cốc vốn là một hồ nước tự nhiên nằm ở mạn đông bắc của Trường, Ngũ Lão Phong bao quanh, kì hoa dị thảo, màu trời sắc nước, mê dụ lòng người. Tự bấy trở đi, thi thoảng tôi đều một mình lui tới Cốc để tìm về với tự nhiên, thả mình vào cảnh vật, chỉ thấy khoan khoái dễ chịu, mọi ưu tư phiền muộn cũng phút chốc tan biến.

Từ mạn dưới trường đi lên, đối diện bờ bên kia có mấy cây phi lao, là chốn đậu chân của mấy con cò với mấy con chim nước, chắc do lạc đàn trong những đợt bay đi tránh đông, lang thang bạ xuống dưới này. Khi thoảng, tôi thấy chúng cứ quẩn quanh bên mép nước, chẳng biết có phải đang bắt mồi, hay bần thần nhớ chúng bạn, mà cứ lò đò được dăm ba bước lạc ngỏng cổ ngước lên giời, rồi nghe ngóng, chốc chốc sải cánh bay lên, rồi lại bạ xuống.

Quanh hồ, đường đá khúc khuỷu lên xuống, đoạn đầu có cầu gỗ bắc ngang khe. Mùa nước lớn, nước từ hồ qua khe đó chảy ra bên ngoài, nghe róc rách đến vui tai. Qua cầu, một đoạn đường gỗ, thiết kế ngay trên mặt nước, sát với bờ. Mùa thu, nước hồ trong v, đi phía trên trông xuống, chẳng khác nào như đang đi trong gương vậy. Nói đến đây mới nhớ, nước hồ vốn trong quanh năm, có khi nào đục đâu. Có chăng, thì mùa thu nước lắng mà tĩnh hơn, cộng với trời thu trong xanh chiếu xuống, nên cảm giác nước trong hơn. Đông đến, nước lại có phần ngàu đi, hoặc cũng có thể do màu trời chiếu xuống, khiến người ta có cảm giác nước đục hơn. Xuân hạ hai mùa, sắc nước không khác nhau bao nhiêu, cũng là cái trong pha màu thẫm xanh.

Góc cuối mạn trái Cốc, người ta dựng một đình nhỏ ngay trên mặt hồ, để tiện cho du khách nghỉ chân. Trong cái tĩnh lặng của Cốc, cây cối um tùm, non nước thanh u, lại điểm lên một mái đình, nom thật nên thơ. Đình dựng trên bệ tròn, nóc cất theo lối bát quái, bên trên phủ lá, xung quanh có lan can để ngồi. Tôi thích mái đình đó, nên gọi nó là Tiểu Nghi Đình, ý nói đấy sự khéo sắp đặt, nên khiến cho người ta cảm thấy vui vẻ, thích thú đó vậy.

Tiểu Nghi Đình mùa sen (ảnh chụp hè 2017)
           Góc trong Tiểu Nghi Đình, một cầu gỗ nối liền đôi bên, cong cong như lưng tôm, để đi quanh hồ thì buộc phải qua cầu. Gần chân cầu trồng nhiều dong, đến mùa hoa nở ngập lối, hương xông ngào ngạt. Dưới dòng, một vài tảng đá được sắp đặt, nửa ý thợ, nửa ý giời.

Hồ trên Cốc trồng nhiều sen, mà sen cũng chỉ mọc ở mạn trái, chắc do khu đó nước nông mà bùn đen, hợp với sen, nên chúng mới lên tốt. Năm nào cũng vậy, cứ mỗi độ tết Đoan Ngọ, tôi đều lên đi dạo ngắm sen, có lần còn tiện tay bứt cả sen đem về cắm trong phòng. Cuối mùa, sen lụi, tôi lại lên nhổ cả cành sen khô đem về cắm vào bình rượu, trưng trong phòng, đến giờ hãy còn.

Hè, thoảng tôi cũng lên Cốc từ lúc sớm mơ, khi đó sương vẫn chưa tan, mặt hồ còn là là hơi nước. Bỗng nghe “xùm”, giật nẩy mình, lát sau mới biết có người từ trên bờ nhảy xuống nước. Đấy là dân xung quanh có người lên bơi sớm đó vậy. Chả riêng gì trên Cốc, mạn ngoài biển cũng vậy, dân họ bơi bất kể đông hay hè, ngày hay đêm, lúc nào cũng thấy có người ngụp lặn trong nước.

 Dọc con đường đá mé trong, lác đác vài ngôi mộ, rặt là mộ thời Dân quốc. Thoảng mới có ngôi được xây cất kĩ càng, còn lại chỉ là những ụ đất được gắn bia ghi nhớ. Mỗi độ thanh minh, cũng có người đến tảo mộ, thắp hương, còn lại thì quanh năm cỏ mọc, đi ngang qua không để ý thì cũng không biết. Năm ngoái, khi cùng mấy người bạn lên xem đua thuyền, tôi có vạch cỏ để xem bia mộ, tối đến thì bị cảm lạnh. Anh bạn tôi nói, đấy là do ban chiều tôi nghịch dại, nên bị quấy quả. Tôi cũng chẳng biết có phải thế thực không, nhưng qua vài hôm thì tôi lại thấy bình thường trở lại.

Hai lão bá đương tập thuyền (ảnh chụp cuối thu 2017)
           Lại đi một đoạn nữa, thì bắt gặp “nhà bè” của đội thuyền rồng, người anh em cùng phòng tôi một thời gian từng là thành viên của đội, suốt ngày ăn ngủ rồi bám Cốc tập luyện, thi đấu. Những mùa thuyền rồng, trên Cốc ngày đêm náo nhiệt, tiếng người cười nói, gọi nhau í ới; tiếng mái chèo khua nước, nghe như tiếng cá ngược nước lóc lên bờ.

Thong thả đi thêm một đoạn, nếu để ý, thì sẽ thấy một vài điếu thủ đang ngồi thả câu, đấy là đoạn qua khúc cua để trở lại đường xuống. Đi hoài mỏi chân, lại ngồi xem người thả câu, rồi bắt chuyện làm quen, mới biết đấy đa phần là cán bộ trường đã về hưu. Tiếng là thả câu, nhưng thực chất lại là để giải tỏa nỗi nhàm chán do nhàn rỗi. Tôi thấy người ta câu được nhiều, nhưng rặt là cá rô phi loại hai ba ngón tay, trong khi hồ rất nhiều cá to.

Cuối cùng, cũng đi hết một vòng quanh Cốc, điểm đầu mà cũng là điểm cuối. Tại đây, một lão bá bán đồ lưu niệm kiêm thuyết trình bản đồ của Trường, chi tiết, tỉ mỉ và xác thực, có lần tôi đứng nghe ké với du khách, nên biết được. Lần nào cũng vậy, lão bá cứ ra rả nói, còn du khách thì ngơ ngác nghe. Đấy đều là những lớp lang tri thức và ẩn ý của người Tàu, ẩn sau những vẻ tráng lệ bên ngoài của mỗi kiến trúc, không nghe thì khó mà tự nhìn ra được.

Đường xuống hơi dốc, mé tả là sườn núi, mé hữu là quang cảnh bao la, hai bên trồng đầy những xoài, ngặt nỗi trái bé tí mà chua, nên cũng chẳng ai hái. Xuống thêm một đoạn, mùa này mộc nở bung trời, những lấm tấm trắng của hoa lẫn trong màu xanh sẫm của lá. Chỉ thấy, những đợt hương theo gió đưa lên, nhẹ nhàng mà khoan khoái, chẳng khác nào mộc ở quê nhà.

           Hạ Môn, ngày cuối tháng Giêng, năm Mậu Tuất
Duy Phong Lê Đình Sơn viết ở Xiada

Thứ Ba, 13 tháng 3, 2018

Mấy dòng về chợ quê

Còn nhớ, hồi còn bé xíu, khi thoảng tôi vẫn hay nghe các bà đi chợ hỏi han nhau mấy câu có nội dung na ná nhau, đại loại như "hôm nay mất mấy ngàn tiền quét?" hay "tiền quét hôm nay thế nào?" Hồi đó cứ nghe vậy thôi, chứ nào có biết tiền quét mô tê ra sao. Mãi sau này, khi lớn thêm được tí chút, thì mới dần hiểu ra, tiền quét là khoản thu của nhà thầu chợ đối với những người đến chợ bán hàng nhằm phục vụ một số công tác như quét dọn rác sau mỗi buổi họp chợ, tu sửa chợ khi cần thiết v.v.
Những năm 97 - 98, khi tôi mới học lớp 2 lớp 3, ngày đó vào chợ gửi xe còn mất thêm năm trăm đến một ngàn, mẹ tôi đi chợ thường đem tôi theo để trông xe, đỡ được mỗi hôm một ngàn, cũng được mấy mớ rau ăn cả ngày. Khi thoảng đứng trông xe một lúc lại thưởng cái bánh xèo hay cái bánh cù, nên tôi cũng hăng hái lắm. Chả kể riêng tôi, trẻ con hồi đó tụi nào cũng vậy cả, thậm chí có đứa còn chạy theo mẹ đi chợ, chỉ để đòi quà, thoảng có đứa còn bị đánh toét đít, vì tội nhũng nhẵng làm trễ phiên chợ của mẹ. Tiếng là trông xe cho có người có tiếng vậy thôi, chứ mấy đứa trẻ ham chơi như tụi tôi, cũng có mấy khi để ý mà trông. Hoặc thử có gã nào lấy mất xe, thì một đứa nhóc bảy tám tuổi thì nào có sức chống cự gì. Nên nhớ, bảy tám tuổi tụi tôi khi đó chả biết khỉ khô gì đâu, không được như các cháu bây giờ, cái gì cũng biết.
Chợ quê (hình minh họa, nguồn: internet)
Làng tôi có Chợ Già Lam, dân làng vẫn gọi là Chợ Mới. Chợ này nằm ngay đầu Hoằng Trạch, đi hết xã tôi là đến ngay. Sở dĩ khác xã nhưng vẫn được gọi là chợ làng, là bởi trước kia xã tôi và xã Hoằng Trạch thuộc cùng một tổng, gọi là tổng Bái Trạch. Ngoài ra, còn có hai xã khác là Hoằng Đại và Hoằng Lộc, xưa hay gọi tắt tên bốn làng là Trạch ( Hoằng Trạch ngày nay) - Thành (Hoằng Thành ngày nay) - Đại (Hoằng Đại ngày nay) - Lộc (Hoằng Lộc ngày nay). Ngày trước, trừ những hôm phiên chợ Quăng, thì chợ Mới hôm nào cũng họp, và chỉ họp phiên sáng, giờ thì họp tất cả các ngày trong tháng, thậm chí buổi chiều vẫn có người họp.
Đi ngược lên có Chợ Quăng của làng Hoằng Lộc, trước đây là chợ phiên, chỉ họp các ngày 5 - 10 - 15 - 20 - 25 - 30, và thường chợ chỉ đông vào phiên sáng, chiều đến khách chỉ lưa thưa. Thế nhưng bây giờ Chợ Quăng cũng họp hầu hết các ngày, bất kể sáng chiều, thậm chí là trưa. Còn nhớ, hồi hai không lẻ năm, khi đó tôi học lớp chín, khi thoảng vẫn cùng chúng bạn đạp xe lên chợ Quăng lấy trái bàng chín để ăn và bắt chim chích trên các ngọn cây kè. Những cây kè cao mươi mười lăm mét, mà hồi đó tụi trẻ con chúng tôi cứ leo như không, thế mới tài. Bây giờ có cho tiền cũng chả đứa nào dám.
Xa thêm chút nữa thì có chợ Bút ngay ngã tư Gòng , chợ Huyện ngoài mé khu Hoằng Anh, rồi chợ Vực, nhưng tôi cũng chẳng mấy khi qua lại mấy chợ này, bởi lẽ không có nhu cầu gì mà đường lại xa. Duy có chợ Huyện, là dăm ba lần chở mẹ tôi đi mua gạo, thì tôi còn bén mảng. Hồi đầu ngang chợ Huyện, đi qua đền Tứ Vị Cô Nương, tôi còn cảm thấy gì đó đậm màu huyền bí, giờ thì khác rồi.
Có chợ ắt có chùa, không chùa thì đền hoặc miếu, ít nhất phải có gì đó thuộc về phần tâm linh. Mạn cuối Hoằng Thành đầu Hoằng Lưu, xưa có chùa Trào Âm, trước chùa là chợ, nhưng giờ chợ đã lụi, mà chùa lại ngày một khang trang, một phần đất chợ giờ gộp làm đất chùa. Tuy nhiên, mạn dọc đường giờ lại nổi lên chợ cóc, tiếng là chợ nhưng cũng chỉ có dăm bảy hàng thịt cá, trái cây, phục vụ bà con xung quanh, và công nhân đi làm về tiện thì dừng xe lại mua ít đồ, xong đi ngay. Như vậy vừa tiện cho người mua, mà cũng tiện cho người bán, duy khi thoảng người xe như nêm, gây tắc đường thì có phần bất cập.
Hoằng Thành, 2018.01.30
Duy Phong Lê Đình Sơn