Đêm qua, tôi lại
mơ thấy con Vàng, máu me bê bết, khắp mình trọng thương, thực thê thảm.
Năm 99, kể từ khi
nhà tôi mua con Vàng với giá 1400 tệ đến nay, tôi cũng không nhớ rõ đây là lần
thứ bao nhiêu tôi nằm mơ thấy nó. Dường như nó chưa từng ra đi, vẫn luôn tồn tại
trong những cơn ác mộng của tôi.
Thân thế của con Vàng
kể cũng rất éo le, khi sinh nó thì mẹ nó đã có tuổi, do đó, ngay sau khi nó đủ
sức kéo cày, thì mẹ nó liền bị bán cho lò mổ.
Trời sinh con Vàng
như một cỗ máy làm việc, nếu như loài bò ở Madagasikara có thể nghe hiểu tiếng
Pháp (Bullock, 2013), thì ngay từ bé con Vàng có thể nghe hiểu tiếng Choang. Từ
lúc bé tí, nó đã cùng mẹ xuống đồng làm việc, mẹ nó kéo cày thì lẻo đẽo theo
sau, trong khi đám bạn cùng trang lứa của nó đa phần vẫn đang chạy rông.
Dần dà, con Vàng
không chỉ có thể nghe hiểu được các hiệu lệnh tắc - đi, họ - dừng, cũng như quay
ngang rẽ trái, không chỉ có vậy, nó còn nghe hiểu được khi nào chủ nhân giận dữ
hay quát mắng. Cho nên, trong khi các nhà khác đang phải gồng mình lên để điều
khiển bò nhà mình, thì bố tôi lại chẳng hề tốn một chút sức lực điều khiển con Vàng.
Mỗi khi đến khúc quay, nó đều tự biết, không hề chậm trễ hay sai sót.

Các nhà khác nuôi
bò mệ, mỗi năm có thể đẻ được một lứa, rất có giá trị kinh tế. Song, bố tôi lại
chỉ nuôi một mình con Vàng, để truyền lại nòi giống cho tất thảy bò mệ trong
làng, thuần túy là nghĩa vụ chứ không hề có chút lợi ích nào. Bố tôi quyết định
chỉ nuôi một mình con Vàng, bởi hai lý do: thứ nhất, con Vàng là một cỗ máy làm
việc chăm chỉ, mùa nào việc nấy; thứ hai, con Vàng rất dễ nuôi, cứ tháo cửa chuồng
thả ra, chẳng cần ai chăn dắt, nó có thể tự dò ra được những đàn bò khác đang
ăn trên núi để nhập đàn. Hơn nữa, con Vàng chưa từng tự tiện xuống núi ăn hoa
màu, trừ khi bị bị những bò cái khác dụ dỗ thì nó mới trở thành tòng phạm.
Con Vàng có hai
tính cách hoàn toàn trái ngược, bình thường thì ngoan ngoãn chịu khó, trọng
tình trọng nghĩa; nhưng có một điểm mà tôi cực ghét, đấy là háu chiến. Một
trong những hành động vĩ đại nhất của con Vàng, đấy là có thể chung sống hòa
bình với tụi lợn trong cùng một chuồng, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, kết thành
tình hữu nghị bền vững.
Một lần, do nhà
tôi không cẩn thận để hở cửa chuồng, hai đồng chí lợn đã cùng con Vàng leo lên
núi Đại Minh cao hơn 400 mét, mãi đến xẩm tối cả lũ mới lững thửng dắt díu nhau
đi xuống, quả là anh em chí cốt.
Lần khác, một con
bò mệ không cẩn thận bị sẩy chân rơi xuống vách núi, chủ nhân con bò mệ kia vốn
là một chủ lò mổ, nhìn thoáng đã biết không thể cứu chữa nên liền đến thẳng chỗ
con bò mệ kia bị rơi xuống, trực tiếp mổ lấy thịt. Chỗ đấy, chỉ còn lại một
vũng máu và phân.
Hôm khác, đã xảy
ra một việc khiến tôi không thể nào quên.
Hôm đấy đã là
hoàng hôn, khi những con bò đều đã từ trên núi đi xuống, con Vàng đi tới chân
núi, ngửi thấy mùi còn sót lại của con bò mẹ xấu số kia, nó liền đứng đấy kêu rống
lên, tiếng rống nhỏ xuống, tựa như vò gan dứt ruột. Lúc đó, những con bò khác
nghe thấy tiếng rống đau thương của nó, liền đứng yên bất động. Con Vàng vẫn đứng
đấy, kêu rống thảm thiết, nước mắt giàn dụa.
Từ bé đến lớn, tôi
chưa từng gặp cảnh tượng nào như vậy, vừa kinh ngạc vừa sợ hãi. Hồi đó, lại
đúng thời điểm xuất hiện bệnh bò điên của Anh, tôi còn cho rằng con Vàng bị
điên.
Tuy cơ thể con Vàng
tráng kiện, nhưng thời trẻ con Vàng cũng đã từng bị thương. Năm đó, không hiểu
tại sao nó lại bị trật khớp vai chân trước, tập tễnh bước về. Lúc đấy, bà con
trong thôn phân ra hai nhóm góp ý: thứ nhất, bán quách nó đi, đến bước đi còn
không nổi thì còn làm ăn được gì; thứ hai, bị thương như vậy thì bán cũng mất
giá, chi bằng thử nắn lại chân cho nó xem thử.
Sau khi suy nghĩ,
bố tôi quyết định nắn lại xương cho con Vàng. Trong thôn không có bác sĩ thú y,
nên mấy chú mấy bác cùng nhau vật ngã nó ra, dùng búa đóng lại chỗ xương bị trật
cho nó. Chỉ nửa tháng sau, chân nó đã bình phục, bước đi lại nhẹ nhàng như
không.
Thời trẻ, con Vàng
là chú bò đực duy nhất trong làng, dáng vẻ hiên ngang, mặt mày rạng rỡ. Cho dù thân
hình nó có hơi nhỏ bé, nhưng bù lại nó lại có một cặp sừng vừa đẹp vừa chắc, có
lẽ đấy cũng chính là căn nguyên khiến nó rất háu chiến.
Trong suốt một thời
gian dài, con Vàng thê thiếp hàng đàn, tất cả mấy chục con bò mệ trong làng đều
là thê thiếp của nó, những chú bê con trong làng ít nhiều đều có nét giống nó. Dân
làng đều biết chi phí nuôi bò đực, toàn toàn không chút kinh tế nào, cho nên rất
ít người nuôi. Do đó, trong suốt nhiều năm, con Vàng không hề gặp phải bất cứ
thách thức nào. Tuy nhiên, đúng vào hai năm cuối cùng của thế kỷ 20, quả như những
gì Triệu Trung Tường trong chương trình thế giới động vật khi nói về con sư tử
đực già đã hạ giọng: “Những ngày tháng tươi đẹp của nó đã hết rồi!”
Không ngờ, sự xuất
hiện của con Đen đã bắt đầu thách thức quyền uy của con Vàng.
Đấy là một chiều
xuân, khi hương vị cỏ non phơi phới hòa cùng chất đất, như một thói quen, tôi
ngồi dưới chân núi đợi con Vàng. Chỉ là, bầu không khí hôm đấy rất không thoải
mái. Trong khi tất cả trâu bò trong làng đều đã xuống núi, thì con Vàng mãi vẫn
chưa thấy bóng. Thì ra, một trường quyết đấu đang sắp sửa xảy ra.
Tuy thân hình con
Đen to lớn, nhưng từ nhỏ lớn lên bên cạnh con Vàng, nên cũng không dám khinh suất.
Do đó, xung đột giữa chúng mới chỉ dừng lại bằng các pha mài sừng mang tính chất
cà khịa. Bốn năm nay, con Đen tuy đã bốn tuổi nhưng vẫn rất cẩn trọng thăm dò sức
mạnh của con Vàng. Mãi đến chiều nay, dưới sự kích thích của hoóc môn nam tính,
trận quyết chiến cuối cùng mới xảy ra.
Con Vàng và con
Đen thường ngày đều chạm trán nhau, con nào cũng ngiêng người thăm dò đối
phương, từng tiếng thở phì phò, không khí như ngưng lại. Tuy con Vàng ở trị trí
bên dưới, nhưng đôi mắt xanh đen ánh lên, nào có coi con Đen ra gì.
Song, rõ ràng con
Vàng đã đánh giá thấp sức mạnh của con Đen.
Chỉ chưa đầy hai
phút, con Vàng đã bị công kích, phải lui về từng đợt để chống trả, mặt đất chi
chít vết chân do ác đấu. Trong chớp nhoáng, con Vàng đã bị con Đen húc lăn nhào
trên đá sỏi dưới chân núi, con Đen ra sức ghì cổ con Vàng xuống, con Vàng thì bốn
vó giữa trời, rống lên từng hồi bi thương. Lúc đó, tôi vô cùng lo lắng, chỉ sợ con
Vàng sẽ hy sinh, liền vội lấy gậy đập uỳnh uỳnh lên người con Đen.
Con Đen biết điều,
liền nhảy ra, nó ưỡn người rống lên một hồi, vẫy vẫy cái đuôi, nhấc chân bước về
một cách hiên ngang. Con Vàng thảm bại, toàn thân lấm lem bùn đất, dưới đuôi
còn hằn một vết thương rất sâu, nó cẩn trọng phía sau, gục đầu thê thảm.
Tôi vốn nghĩ, sự
chuyển giao quyền lực của đàn bò trong thế kỷ 20 vốn đã kết thúc như vậy. Song,
con Vàng trời sinh háu chiến, lần thất bại đầu tiên lại thua dưới tay người anh
em từ nhỏ lớn lên bên cạnh, nên nó không cam lòng.
Do đó, kể từ sau
trận quyết chiến đầu tiên, cứ hễ chạm mặt nhau là con Đen và con Vàng lại gườm
gườm, lao vào húc nhau, bất kể trong trường hợp nào. Mỗi khi chúng tôi đang làm
đồng, lại nghe thấy từng hồi rống của chúng trên núi, đương nhiên là chúng lại
quyết đấu. Rất nhiều buổi chiều, con Vàng đều trọng thương trở về, ở cái tuổi
đã xế chiều, nó lúc nào cũng thắng ít thua nhiều.
Cho đến một hôm,
tôi lại ngồi dưới chân núi đợi nó trở về, trông thấy đầu nó máu me bê bết, tôi
sợ quá kiểm tra, nhưng không tìm ra vết thương, cũng không rõ là máu chảy từ
đâu ra.
Về nhà, đi qua chuồng
con Đen, thấy khắp đầu con Đen toàn là máu tươi, lại gần xem xét thì phát hiện
cặp sừng của nó đã gãy.
Lúc này, tôi mới vỡ
lẽ lý do khiến đầu con Vàng bê bết máu tươi. Đấy có lẽ cũng là câu trả lời chắc
chắn nhất cho con Vàng, khi trời sinh nó háu chiến, tuổi tác lại cao, thân hình
lại nhỏ, nhưng càng đánh lại càng hăng, càng thua càng không bỏ cuộc.
Nhưng mà, con Vàng
quả thực đã già, nó ngày càng thích ở một mình.
Theo thói quen của
làng tôi, cứ sau mỗi mùa vụ, dân làng lại thả trâu bò lên núi Đại Minh chừng
hai ba tháng để chúng hồi sức. Trước vụ thu đông, trên núi cỏ khô cây héo, trâu
bò lại mới tự động trở về tránh đông. Mùa đông trước khi con Vàng đánh bại con
Đen không lâu, nó đã không theo đàn trở về, một mình trên núi, dường như không
muốn trở về nữa.
Do mỗi năm đều có
trâu bò sẩy chân rơi xuống vách núi, nên bố mẹ tôi đều rất lo lắng con Vàng đã
xảy ra chuyện gì bất trắc, dù sao thì nó cũng là tài sản đáng giá nhất trong
nhà. Cho nên, bố mẹ tôi đã phải đội mưa đội gió, mặc kệ cái lạnh để tìm nó suốt
một tuần trên đỉnh Đại Minh. Sau cùng, lần theo dấu chân và phân, bố mẹ tôi
cũng tìm thấy nó tại một vị trí khá bằng phẳng.
Thấy chủ nhân đến,
nó vẫn chậm rãi gặm những ngọn cỏ khô, bố tôi hắng giọng quát, nó liền vội quay
đầu, đi thẳng về nhà.
Chị tôi lên trung
cấp, tôi cũng lên cấp ba, áp lực kinh tế lại càng đè nặng lên đôi vai bố. Lúc
này, nhà tôi phải thay đổi hoàn toàn sách lược trước đây, bố mua một con bê cái
của nhà chú Sáu, dự định khi nó biết kéo cày thì sẽ bán con Vàng.
Sáng hôm bán con
Vàng, tôi đang học cấp ba, bởi chưa nghỉ hè nên tôi không được về. Tôi sớm biết
con Vàng đã hết thời, nhưng khi trở về thấy chuồng trại trống hươ trống hoác, trong lòng lại
không khỏi trống trải. Không biết thợ mổ đã dùng chiếc búa bao nhiêu cân để đập
nó.
Từ khi tôi biết nhớ
chuyện đến giờ, nhà tôi tổng cộng nuôi đến bảy con bò, nhưng chỉ có con Vàng là
đực, cũng chỉ duy nhất nó thường xuyên xuất hiện trong những giấc mơ của tôi.
Tôi không nhớ rõ ngày sinh ngày mất của nó, nhưng từ khi tôi học lớp 3 đến lớp
10, nó đã bầu bạn với tôi suốt thời thơ ấu và thời thiếu niên.
Con Vàng háu chiến,
nên tôi rất ghét phải khi đi chăn, do đó thường xuyên ngược đãi nó. Mỗi khi mẹ
gọi tôi đi chăn, tôi đều ràng nó dưới gốc cây rồi ra sông đi bơi. Khi thoảng, lựa
lúc mẹ đi làm, tôi lại dắt nó về chuồng, ném cho nó bó cỏ khô và thùng nước.
Đương nhiên, những việc này đều khiến tôi phải trả giá, nếu như bố đi làm về thấy
hông bò lép kẹp, thì tôi cũng coi như xong.
Con Vàng bầu bạn với
tôi tám năm, nhưng chúng tôi cũng không quá thân mật, bởi nó chẳng bao giờ cho
tôi cưỡi lên lưng. Song, hai mươi năm sau đó, tôi lại thường xuyên mơ thấy hình
ảnh nó - một con bò đực với những hồi kêu tiếng rống đã hun đúc nên cơn ác mộng
chăn bò của tuổi thơ, nhưng không hiểu sao tôi lại thường xuyên nhớ về nó.
Có lẽ, quê hương
nên mới đậm chất “Quê” như vậy!
Duy
Phong Lê Đình Sơn
Dịch tối 17.07.2019