Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2018

Chợ Bút (Thị trấn Bút Sơn)


Một ngày bên ngoài, mươi ngay ở nhà. Chẳng phải nói ở nhà thay đổi nhanh, mà là khi mọi thứ đã trở nên quen thuộc, thì bất kì chuyển động nhỏ nào cũng trở nên to lớn. Mỗi lần về quê, thoảng có dịp ghé thăm lại một chốn xưa cũ nào đó, tôi cũng không khỏi hụt hẫng khi quang cảnh đổi thay quá nhiều. Bức tranh xưa vẫn vậy, nhưng màu thì đã bạc, đôi chỗ đã bong tróc, thời gian đúng thực chẳng chừa gì ra.
Thẳng cổng chợ nhìn vào
Chợ Bút… nằm ngay đầu bên kia ngã tư Gòng (Goòng), mé trái con đường chạy thẳng ra Ủy ban Huyện. Chợ Bút vẫn thế, vẫn là chợ. Song, cái vẻ duyên dáng của cô gái mười tám đôi mươi đã đâu mất, thay vào đấy là dáng vẻ cộc kệch, tóc tai bù xù của một bà mẹ bỉm sữa, chẳng còn sự quyến rũ năm nao. Cứ đà này, rồi độ dăm bảy năm nữa, có khi chợ cũng lụi. Rồi cái tên Chợ Bút cũng dần chìm vào dĩ vãng, nơi thoảng vẫn hiện trong trong sâu thẳm kí ức của những kẻ ôm hoài xưa cũ.
Gốc bàng mé trong cổng chợ
Tôi cũng không nhiều kỉ niệm với Chợ Bút, chẳng qua là xưa học ngoài huyện, nên thoảng phải ngang qua, thành thử cái tên thì rất đỗi quen thuộc, song hình dong thì lại có đôi phần lạ lẫm. Đôi ba lần vào chơi cũng chẳng để lại nhiều ấn tượng, song những gì đã nhớ thì lại chẳng bao giờ phai.
Quạt bánh đa
Tôi không thích cái sự nhiệt náo chốn chợ búa, thị thành, nhưng lại thích xem cảnh người người trao đổi, bán mua. Cứ xem cảnh người mua kẻ bán, người chèo kẻ néo, hay những câu chuyện lúc vắng khách của mấy bà đi chợ, mà cũng nghiệm ra được khối điều to tát. U tôi là một người khéo chuyện chợ búa, cứ xem U với chiếc xe đạp ông cố vấn mà nuôi dạy bốn chị em chúng tôi nên người, vậy cũng đủ biết. Tôi học được ở U tôi rất nhiều, đều là những đạo lí ở đời, mà chẳng thầy cô hay trường lớp nào dạy.
Một hàng tạp hóa
Chợ Bút nằm ở vị trí quá đẹp, ngay ngã tư thị trấn, thành thử trái với cái đạo sinh tồn của Lão - Trang. Thà rằng cứ nằm trong xó, thì còn mong thọ. Đằng này...! Nhưng rồi cũng chẳng trách được ai! Trời đất bao la, còn có chỗ khiến người ta không hài lòng, nói gì cái chợ. Chẳng nhẽ mặc bộ đồ tây mà đi đôi tổ ong, trông cũng nghịch mắt.
Mấy cô hàng hoa
Chỉ mong, mỗi lần về quê có dịp ra huyện, ngang qua thấy chợ vẫn còn, thì tạ ơn lãnh đạo lắm lắm! Rồi cũng chỉ biết mừng mừng tủi tủi, thở phào mà tự an ủi: may quá, chợ vẫn còn!
Lối vào hàng cá, hai bên là hàng rau

Hoằng Hoá, chiều 10.08.2018
Duy Phong Lê Đình Sơn

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

Những cánh chim trời

Qua tiết Cốc Vũ, trời bắt đầu nắng, cái nóng tuy còn dịu, nhưng đã dần cảm thấy cái oi trong đó. Hè sang, cây sung đầu ngõ xanh um, từng chùm hoa cứ thế tủa ra từ thân cây chằng chịt những vết dao, rồi chẳng mấy chốc lại có sung ăn. Vườn bòng quanh ao nhà ông Đẩu cũng bung hoa trắng toát, hương ngào ngạt, lúc nào cũng vo ve tiếng ong trong vòm lá.
Ngang trời, đàn vàng anh vàng óng bay đi đâu cả mùa đông, nay trở về, chao qua chao lại, đã có ba con sập thẻ nhựa nhà ông Sợi, những con còn lại cũng chao quanh một vòng rồi mới bay đi. Tôi cứ thẩn thơ mãi, phải chi tôi cũng làm được cây bẫy chim như ông Sợi, thì tốt.
Chim vàng anh (nguồn ảnh: Internet)
Xuân qua hè đến, chim chóc bay về nhiều hơn, suốt ngày líu lô trong các tán cây, đến vui tai. Đám trẻ con cũng sửa soạn súng ná, chuẩn bị một mùa săn chim. Tôi thích săn chim, cũng thích nuôi chim, cũng nhiều câu chuyện xoay quanh chim chóc.
Trong đám chim chóc, tôi thích nhất chích ta, thứ đến chích chòe, rồi mới đến chào mào, các loài khác tôi không thích lắm, nên cứ thấy bình thường thế nào. Một lần, tôi thấy gã chích chòe nhảy nhót trong tán mít nhà ông Nhân, lúc sau đã thấy sà xuống vũng nước sau nhà, nhìn quanh do thám, nhảy nhảy mon men đến mép nước, chúc đầu uống vội một ngụm, rồi ngước lên ngó quanh, sau đó mới yên tâm uống tiếp ngụm khác, trước khi bay thẳng lên mái nhà kè, đứng huýt choẹt choẹt. Có lần, bác Sâm mách cho tôi cách bẫy chích chòe, lấy nhựa thông cuốn anh que xương dừa, bắt con dế dũi buộc vào treo lủng lẳng, chích chòe thấy dế ngo ngoe, lao đến bắt, sẽ dính nhựa. Tôi cũng chỉ nghe vậy, chứ chưa bao giờ đem nhựa thông đi bẫy chích chòe. Nghe kể, chích chòe đương nuôi con, nếu bị bắt sẽ cắn lưỡi mà chết, tôi cũng không nỡ bẫy. Thoảng đương đi ngoài đường, nghe tiếng “huýt choẹt choẹt choẹt”, tôi liền đứng lại, nghiêng đầu lắng, rồi nhìn quanh xem gã chích chòe đương đậu cành nào. Người làng gọi chích chòe lam, nhưng tôi chỉ gọi chích chòe, bởi Lam là tên Bà Nội tôi, nên tôi kiêng.
Chích chòe [than] (nguồn ảnh: Internet)
Chích chòe ưa làm tổ trong mấy hốc dừa, mấy thân tre bị chết dóc giữa bụi, đấy là những nơi lí tưởng để tụi chích chòe làm tổ. Thoảng, cũng có gã làm tổ trên ngọn dừa, ngọn kè. Cũng không biết có phải mấy gã chích chòe vụng làm tổ, nên thích làm tổ trong mấy hốc cây? Tôi chỉ thấy, mấy gã tha rác về, đặt ngang đặt dọc, vậy là thành tổ. Những trưa lang thang tìm bắt chim, chúng tôi cứ lượn lờ trong làng, thấy thân cây dừa nào bị sâu, có hang có hốc thì leo lên kiểm tra. Cũng có hôm, leo dăm ba cây mà không bắt được gì, chúng tôi hái dừa uống nước, tất nhiên là hái trộm.
Xây tổ xoàng hơn cả mấy gã chích chòe, đấy là mấy con chim chích. Chim chích cứ tha rác về thật nhiều, nên cái tổ lúc nào cũng là một búi rác to, xấu thậm. Phải rồi, nhắc đến chim chích mới nhớ, lâu rồi, có khi phải cả chục năm nay, tôi không thấy chích ta, không biết có phải chích ta đã tuyệt chủng rồi hay không? Ngày trước, chích ta nhiều vô kể, chắc do chúng đẻ nhiều, nên dẫu có bị dân săn đặt lồng thả lưới, thì ở đâu cũng cứ thấy hàng đàn. Hồi bé tí, khi đó bác cả tôi vẫn còn trên này, có lần anh Duẫn leo cây cau trước nhà bắt tổ chích ta, dễ cũng phải sáu bảy con chứ không ít.
Chim chích ta (nguồn ảnh: Internet)
Bên nhà chim chích có nhiều loài, thế nhưng tôi cũng chỉ phân biệt được hai loài: chích ta và chích rừng. Ngày đó, ở quê, tôi chỉ thấy rặt mỗi chích ta, rồi không hiểu tụi chích rừng từ đâu đến, thoạt đầu không nhiều, loáng thoáng vài ba con, từng đàn nhỏ lẻ; nhưng tụi nó đẻ nhanh mà nhiều, dần dà thì bây giờ tôi không còn thấy chích ta đâu nữa. Chích ta và chích rừng giống nhau như hai giọt nước, không để ý thì khó mà phân biệt. Phải nhìn kĩ, mới thấy chích ta thân hình nhỉnh hơn chích rừng một chút, cũng chẳng biết có phải là chích ta nhiều lông hơn chích rừng hay không. Màu lông chích ta vàng sẫm, nhàn nhạt, lúc nào cũng bù xù như bà đẻ; trong khi màu lông chích rừng có phần tối hơn, lúc nào cũng nhẵn nhụi, nom như mới vuốt keo. Đặc biệt, lớp màng hai bên khóe mỏ của chích ta vàng tươi như màu trái duối chín, chứ không đen thẫm cái màu dái chó của chích rừng. Cái mỏ chích ta như hai cái cái vỏ trấu chắp lại, xinh xắn hiền lành, chứ không vẻ hung hung như mỏ két của tụi chích rừng. Đấy là quan sát bằng mắt, nếu chỉ nghe tiếng kêu thì làm sao mà phân biệt? Thưa rằng, tiếng kêu của chích ta thường chậm dãi mà chắc chắn, truých… truých… truých, từng tiếng một phát ra, nghe vang mà ấm, chứ không kiểu ríu ra ríu rít từng tràng như tiếng súng liên thanh của tụi chích rừng. Tôi thích chích ta, nhưng ngày trước lại toàn nuôi chích rừng, bởi khi tôi cùng đám bạn biết leo trèo bắt chim, thì chích ta đã đi đâu hết, còn lại mỗi chích rừng. Bây giờ, về quê hay đi đâu, cũng chỉ thấy chích rừng. Hôm trước, lúc qua chùa Nam Phổ Đà, từng đàn chích rừng sà suống nhặt thóc của khách thập phương vãi trên nền xi măng, tôi chợt nghĩ, chẳng biết có phải chích rừng chính là chích Tàu, tràn sang rồi dần thay chích ta hay không, tôi cũng không biết, chỉ thấy ngờ ngợ.
Chim chảo quạt/rẻ quạt (nguồn ảnh: Internet)
Nói đến xây tổ đẹp, tôi phải phục vợ chồng nhà cái anh chảo quạt (rẻ quạt). Hồi ông Ngoại còn sống, chỗ cửa sổ giường Ngoại nhìn ra bụi hóp xen lẫn duối và mây, tôi từng thấy một cặp vợ chồng chảo quạt se tổ trên mấy nhánh hóp cao cao. Đến giờ, tôi vẫn chưa hiểu tại sao cái anh chảo quạt lại se tổ như vậy, một cái tổ trông giống bát chiết yêu, trên to mà dưới bé, miệng tổ tròn xoe. Cũng không biết nhà anh chảo quạt se tổ từ thứ gì, mà trông cái tổ cứ nhẵn nhùi nhụi, gọn gàng thấy lạ, khác hẳn tổ của mấy gã chích chòe hay tổ mấy con chim chích. Chim trống chim mái phiên nhau, một con nằm trong tổ, như để ướm kích thước, con còn lại cắp  rác bện quanh, y kiểu đem chân thử giày.
Chim ri (nguồn ảnh: Internet)
Ruýtt ruýt rúyt rúyt, ấy tiếng mẹ con nhà ri đang tìm bắt sâu trên ngọn cây trứng gà, chốc chốc lại chuyền qua ngọn chay, rồi ngược lại mấy nhánh trứng gà. Có lẽ ri mẹ đang bày cho ri con cách kiếm mồi, trông dáng vẻ mấy ri con còn vụng về thấy rõ. Ri làm tổ cũng đẹp, tròn chĩnh mà gọn gàng, bên ngoài phủ một lớp màng xanh lơ như mạng nhện mà lại không phải mạng nhện. Không biết có phải nhà ri dạn người, mà làm tổ vừa thấp vừa chỗ người hay qua lại, ngay chỗ cái chạc đầu cành cây trứng gà, chìa ra ngõ. Năm nào cũng vậy, cứ đương đi, ngước đầu lên là y rằng thấy ngay tổ ri, vậy là lại có trò để chơi.
Chim chào mào (nguồn ảnh: Internet)
Khuýu khuýt khuýu khuýt, kìa đội chào mào, cái đội chuyên đến ăn khế nhà Ngoại mà tôi vẫn thường nhắc. Chắc là do trên đầu mỗi anh chàng đều có một túm lông, trông giống cái mào nên người ta gọi luôn chào mào cho nhanh. Hồi đấy, cũng chỉ biết vậy, chứ đâu biết cái túm lông trên đầu mỗi anh chàng lại có nhiệm vụ khác, ve vãn bạn tình. Trong đám họ hàng nhà chim ở quê mà tôi biết, chào mào là đội sành ăn trái cây hơn cả, mỗi khi hái quả chín, thấy quả nào chào mào đương đục dở, thì quả đấy kiểu gì cũng ngọt hơn những quả khác. Chào mào đặc biệt thích làm tổ trên ngọn cau, những cây cau cao mà trơ trọi một mình giữa vườn, chắc chúng nghĩ sẽ an toàn khi làm tổ những nơi như thế, nhưng chúng có liệu thế nào thì cũng không thể bằng đội bắt chim chuyên nghiệp tụi tôi.
Chim choành choạch/chiền chiện (nguồn ảnh: Internet)
Hè đến, trời nắng chang chang, trên đồng thoảng lại nghe tiếng choách..choách của mấy con choành choạch, có lẽ cái tên choành choạch cũng từ cái tiếng kêu của chúng mà ra. Loài này, nếu tôi không nhầm, chính là chiền chiện, loài chim được nhắc đến trong thơ của Huy Cận. Choành choạch không sống trong làng, chúng làm tổ ngoài đồng, trong các ruộng lúa, ruộng ngô, hay khóm đìa thanh dọc mấy con mương. Mùa lúa, cũng là mùa sinh sản của chúng, thoảng có người đi gặt, lại bắt được vài ba tổ. Xa xa, mấy con choành choạch vàng nhạt, thoảng lại vút lên nền trời xanh thẳm, lao xuống lấy đà rồi lại vút lên, thoắt cái đã bay từ mấy thước lúa lên tận sào ngô ở tít đằng xa. Choành choạch sức yếu, nên cứ phải bay quãng một, lên xuống như đồ thị, chứ không được thỏa cánh tầng mây như những loài chim khác. Kìa, có nhà đương gặt, đụng phải tổ choành choạch, vợ chồng nhà choành choạch hoảng quá, bỏ tổ bỏ con, lao vội lên đường dây cao thế, cứ đậu đấy kêu choách choách, không biết là mắng người hay kêu trời.
Chim cu gáy/cu rừng (nguồn ảnh: Internet)
Trưa hè, thoảng đương bắt ve cũng nghe tiếng “cúc cù rù… cù rù” của con cu gáy đương gù mái trên ngọn cây dừa nhà chú Tằm, trên mé đồng Sày. Hồi đấy đi học, thoảng cũng men đường đồng Sày cho nhanh, đấy là vào mùa nắng, chứ gặp trời mưa, nước bì bõm, phải chịu. Cu gáy cũng giống cu nhà, lúc nào cũng có đôi có cặp, bay đâu cũng sát cánh liền cành, chẳng khác uyên ương. Nghe nói, cu gáy thường bắt rắn tha về tổ, để trừng người bắt chim non. Chẳng hiểu sao ngày đó tôi cứ tin sái cổ, sau mới biết rặt những chuyện nhảm nhí hù tụi trẻ con, để chúng khỏi leo mấy cây dừa chọc trời mà nguy hiểm.
Chim bói cá (nguồn ảnh: Internet)
Kiên trì nhất trong họ nhà chim, đấy là lão bói cá. Lão thầy bói có thể đậu im trên cành chòa giữa ao cả nửa ngày chỉ để rình rồi, rồi như một tia chớp, lão phóng cái vụt, mỏ đã cắp được con đòng đong cân cấn. Lão thầy bói có bộ lông xanh biếc, như màu chim chả, rất đẹp, nhưng phải cái chân ngắn củn, cái mỏ dài ngoẵng, lại thêm cái tính lầm lì, chẳng nghe tiếng bao giờ, khiến tôi cũng không có cảm tình. Cả họ nhà chim thích làm tổ trên cao, riêng nhà cái lão thầy bói này lại ưa làm tổ trong các hốc đất, cạnh bờ ao, bờ chuôm, chả khác bọn chuột, có lẽ để cho tiện việc bắt mồi cũng nên. Tôi chưa thấy ai nuôi bói cá bao giờ, phần bởi khó nuôi, phần bởi lão suốt ngày lầm lì, chẳng nhảy chẳng hót, nuôi lão chỉ tổ tốn tôm tốn tép.
Chim cuốc (nguồn ảnh: Internet)
Tháng ba, hoa xoan nở tím ngắt, rụng kín lối đi cạnh ao, thoảng lại nghe tiếng cuốc kêu, như giục trời nhanh sang hè. Thế nên, thơ cụ Ức Trai mới có câu “Đỗ vũ thanh trung xuân hướng lão, nhất đình sơ vũ luyện hoa khai” (Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn, đầy trời mua bụi nở hoa xoan). Đầu hè, thường nghe tiếng cuốc mỗi chiều về, ngay bờ ao, chỗ cồn tre nhà bác Oanh. Thoảng, cũng nghe tiếng “cu…uốc…cuốc…cuốc” dưới mạn ao nhà ông Đúc, tiếng kêu cứ khắc khoải, nẫu nề. Mấy con cuốc luồn lách bờ này bụi nọ, mới thấy bóng đấy, thoắt cái đã biến đâu mất. Chẳng trách, người ta mỉa mai lủi như cuốc, cũng chẳng oan. Hồi trước, tôi hay thấy ông Loan xách bẫy đi đánh cuốc, là mấy cái bẫy nắp sập, giống cái đánh giậm nho nhỏ. Mấy năm nay không ở nhà, cũng không biết ông Loan có còn đi bẫy cuốc như hồi tôi còn ở nhà hay không. Nói mới nhớ, đã có lần tôi bắt được tổ cuốc trong bụi mây ngoài bờ ao nhà chú Tới, năm quả trứng lốm đốm thâm đen, to bằng đầu ngón tay cái, chắc cũng đã ấp được cả tuần. Bữa đó, tôi có món trứng cuốc hấp ăn cơm, nhưng mẹ cuốc thì lại mất đi mấy đứa con, giờ nghĩ lại mà thấy tội. Chim cuốc từ đâu mà có, cũng nhiều chuyện xoay quanh, đượm màu huyền bí. Thấy nói, Thục đế mất nước, chết hóa thành chim cuốc, nên suốt ngày kêu “quốc quốc”, nghe ai oán, nỉ non. Những đêm mờ trăng, thoảng cũng nghe tiếng cuốc gọi hồn, nghe tiếng đấy thì kẻ lữ khách lại không khỏi động lòng nhớ quê hương bản xứ.
Hạ Môn, sau tiết Cốc Vũ
Duy Phong Lê Đình Sơn

Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2018

Tình Nhân Cốc 廈大情人谷


           Tư Nguyên Cốc, trước đây vốn là Tình Nhân Cốc. Sau năm Tân Mão, để kỷ niệm cựu sinh viên đã chung tay góp sức nạo vét, tu sửa lại cảnh quan hồ, trường quyết định đổi tên cốc từ Tình Nhân sang Tư Nguyên. Đồng thời, cho khắc ba chữ Tư Nguyên Cốc vào đá để ghi nhớ. Ý nói: uống nước nhớ nguồn, không quên trường cũ đó vậy.

Tư Nguyên Cốc 思源谷 (ảnh chụp hè 2017)
           Ngày mới đến, tôi đã nghe mọi người nói nhiều về Cốc, trong lòng vốn đã thầm thích, nhưng phải sau đó ít lâu mới có dịp đánh đường lên xem thử.

Cốc vốn là một hồ nước tự nhiên nằm ở mạn đông bắc của Trường, Ngũ Lão Phong bao quanh, kì hoa dị thảo, màu trời sắc nước, mê dụ lòng người. Tự bấy trở đi, thi thoảng tôi đều một mình lui tới Cốc để tìm về với tự nhiên, thả mình vào cảnh vật, chỉ thấy khoan khoái dễ chịu, mọi ưu tư phiền muộn cũng phút chốc tan biến.

Từ mạn dưới trường đi lên, đối diện bờ bên kia có mấy cây phi lao, là chốn đậu chân của mấy con cò với mấy con chim nước, chắc do lạc đàn trong những đợt bay đi tránh đông, lang thang bạ xuống dưới này. Khi thoảng, tôi thấy chúng cứ quẩn quanh bên mép nước, chẳng biết có phải đang bắt mồi, hay bần thần nhớ chúng bạn, mà cứ lò đò được dăm ba bước lạc ngỏng cổ ngước lên giời, rồi nghe ngóng, chốc chốc sải cánh bay lên, rồi lại bạ xuống.

Quanh hồ, đường đá khúc khuỷu lên xuống, đoạn đầu có cầu gỗ bắc ngang khe. Mùa nước lớn, nước từ hồ qua khe đó chảy ra bên ngoài, nghe róc rách đến vui tai. Qua cầu, một đoạn đường gỗ, thiết kế ngay trên mặt nước, sát với bờ. Mùa thu, nước hồ trong v, đi phía trên trông xuống, chẳng khác nào như đang đi trong gương vậy. Nói đến đây mới nhớ, nước hồ vốn trong quanh năm, có khi nào đục đâu. Có chăng, thì mùa thu nước lắng mà tĩnh hơn, cộng với trời thu trong xanh chiếu xuống, nên cảm giác nước trong hơn. Đông đến, nước lại có phần ngàu đi, hoặc cũng có thể do màu trời chiếu xuống, khiến người ta có cảm giác nước đục hơn. Xuân hạ hai mùa, sắc nước không khác nhau bao nhiêu, cũng là cái trong pha màu thẫm xanh.

Góc cuối mạn trái Cốc, người ta dựng một đình nhỏ ngay trên mặt hồ, để tiện cho du khách nghỉ chân. Trong cái tĩnh lặng của Cốc, cây cối um tùm, non nước thanh u, lại điểm lên một mái đình, nom thật nên thơ. Đình dựng trên bệ tròn, nóc cất theo lối bát quái, bên trên phủ lá, xung quanh có lan can để ngồi. Tôi thích mái đình đó, nên gọi nó là Tiểu Nghi Đình, ý nói đấy sự khéo sắp đặt, nên khiến cho người ta cảm thấy vui vẻ, thích thú đó vậy.

Tiểu Nghi Đình mùa sen (ảnh chụp hè 2017)
           Góc trong Tiểu Nghi Đình, một cầu gỗ nối liền đôi bên, cong cong như lưng tôm, để đi quanh hồ thì buộc phải qua cầu. Gần chân cầu trồng nhiều dong, đến mùa hoa nở ngập lối, hương xông ngào ngạt. Dưới dòng, một vài tảng đá được sắp đặt, nửa ý thợ, nửa ý giời.

Hồ trên Cốc trồng nhiều sen, mà sen cũng chỉ mọc ở mạn trái, chắc do khu đó nước nông mà bùn đen, hợp với sen, nên chúng mới lên tốt. Năm nào cũng vậy, cứ mỗi độ tết Đoan Ngọ, tôi đều lên đi dạo ngắm sen, có lần còn tiện tay bứt cả sen đem về cắm trong phòng. Cuối mùa, sen lụi, tôi lại lên nhổ cả cành sen khô đem về cắm vào bình rượu, trưng trong phòng, đến giờ hãy còn.

Hè, thoảng tôi cũng lên Cốc từ lúc sớm mơ, khi đó sương vẫn chưa tan, mặt hồ còn là là hơi nước. Bỗng nghe “xùm”, giật nẩy mình, lát sau mới biết có người từ trên bờ nhảy xuống nước. Đấy là dân xung quanh có người lên bơi sớm đó vậy. Chả riêng gì trên Cốc, mạn ngoài biển cũng vậy, dân họ bơi bất kể đông hay hè, ngày hay đêm, lúc nào cũng thấy có người ngụp lặn trong nước.

 Dọc con đường đá mé trong, lác đác vài ngôi mộ, rặt là mộ thời Dân quốc. Thoảng mới có ngôi được xây cất kĩ càng, còn lại chỉ là những ụ đất được gắn bia ghi nhớ. Mỗi độ thanh minh, cũng có người đến tảo mộ, thắp hương, còn lại thì quanh năm cỏ mọc, đi ngang qua không để ý thì cũng không biết. Năm ngoái, khi cùng mấy người bạn lên xem đua thuyền, tôi có vạch cỏ để xem bia mộ, tối đến thì bị cảm lạnh. Anh bạn tôi nói, đấy là do ban chiều tôi nghịch dại, nên bị quấy quả. Tôi cũng chẳng biết có phải thế thực không, nhưng qua vài hôm thì tôi lại thấy bình thường trở lại.

Hai lão bá đương tập thuyền (ảnh chụp cuối thu 2017)
           Lại đi một đoạn nữa, thì bắt gặp “nhà bè” của đội thuyền rồng, người anh em cùng phòng tôi một thời gian từng là thành viên của đội, suốt ngày ăn ngủ rồi bám Cốc tập luyện, thi đấu. Những mùa thuyền rồng, trên Cốc ngày đêm náo nhiệt, tiếng người cười nói, gọi nhau í ới; tiếng mái chèo khua nước, nghe như tiếng cá ngược nước lóc lên bờ.

Thong thả đi thêm một đoạn, nếu để ý, thì sẽ thấy một vài điếu thủ đang ngồi thả câu, đấy là đoạn qua khúc cua để trở lại đường xuống. Đi hoài mỏi chân, lại ngồi xem người thả câu, rồi bắt chuyện làm quen, mới biết đấy đa phần là cán bộ trường đã về hưu. Tiếng là thả câu, nhưng thực chất lại là để giải tỏa nỗi nhàm chán do nhàn rỗi. Tôi thấy người ta câu được nhiều, nhưng rặt là cá rô phi loại hai ba ngón tay, trong khi hồ rất nhiều cá to.

Cuối cùng, cũng đi hết một vòng quanh Cốc, điểm đầu mà cũng là điểm cuối. Tại đây, một lão bá bán đồ lưu niệm kiêm thuyết trình bản đồ của Trường, chi tiết, tỉ mỉ và xác thực, có lần tôi đứng nghe ké với du khách, nên biết được. Lần nào cũng vậy, lão bá cứ ra rả nói, còn du khách thì ngơ ngác nghe. Đấy đều là những lớp lang tri thức và ẩn ý của người Tàu, ẩn sau những vẻ tráng lệ bên ngoài của mỗi kiến trúc, không nghe thì khó mà tự nhìn ra được.

Đường xuống hơi dốc, mé tả là sườn núi, mé hữu là quang cảnh bao la, hai bên trồng đầy những xoài, ngặt nỗi trái bé tí mà chua, nên cũng chẳng ai hái. Xuống thêm một đoạn, mùa này mộc nở bung trời, những lấm tấm trắng của hoa lẫn trong màu xanh sẫm của lá. Chỉ thấy, những đợt hương theo gió đưa lên, nhẹ nhàng mà khoan khoái, chẳng khác nào mộc ở quê nhà.

           Hạ Môn, ngày cuối tháng Giêng, năm Mậu Tuất
Duy Phong Lê Đình Sơn viết ở Xiada

Thứ Ba, 13 tháng 3, 2018

Mấy dòng về chợ quê

Còn nhớ, hồi còn bé xíu, khi thoảng tôi vẫn hay nghe các bà đi chợ hỏi han nhau mấy câu có nội dung na ná nhau, đại loại như "hôm nay mất mấy ngàn tiền quét?" hay "tiền quét hôm nay thế nào?" Hồi đó cứ nghe vậy thôi, chứ nào có biết tiền quét mô tê ra sao. Mãi sau này, khi lớn thêm được tí chút, thì mới dần hiểu ra, tiền quét là khoản thu của nhà thầu chợ đối với những người đến chợ bán hàng nhằm phục vụ một số công tác như quét dọn rác sau mỗi buổi họp chợ, tu sửa chợ khi cần thiết v.v.
Những năm 97 - 98, khi tôi mới học lớp 2 lớp 3, ngày đó vào chợ gửi xe còn mất thêm năm trăm đến một ngàn, mẹ tôi đi chợ thường đem tôi theo để trông xe, đỡ được mỗi hôm một ngàn, cũng được mấy mớ rau ăn cả ngày. Khi thoảng đứng trông xe một lúc lại thưởng cái bánh xèo hay cái bánh cù, nên tôi cũng hăng hái lắm. Chả kể riêng tôi, trẻ con hồi đó tụi nào cũng vậy cả, thậm chí có đứa còn chạy theo mẹ đi chợ, chỉ để đòi quà, thoảng có đứa còn bị đánh toét đít, vì tội nhũng nhẵng làm trễ phiên chợ của mẹ. Tiếng là trông xe cho có người có tiếng vậy thôi, chứ mấy đứa trẻ ham chơi như tụi tôi, cũng có mấy khi để ý mà trông. Hoặc thử có gã nào lấy mất xe, thì một đứa nhóc bảy tám tuổi thì nào có sức chống cự gì. Nên nhớ, bảy tám tuổi tụi tôi khi đó chả biết khỉ khô gì đâu, không được như các cháu bây giờ, cái gì cũng biết.
Chợ quê (hình minh họa, nguồn: internet)
Làng tôi có Chợ Già Lam, dân làng vẫn gọi là Chợ Mới. Chợ này nằm ngay đầu Hoằng Trạch, đi hết xã tôi là đến ngay. Sở dĩ khác xã nhưng vẫn được gọi là chợ làng, là bởi trước kia xã tôi và xã Hoằng Trạch thuộc cùng một tổng, gọi là tổng Bái Trạch. Ngoài ra, còn có hai xã khác là Hoằng Đại và Hoằng Lộc, xưa hay gọi tắt tên bốn làng là Trạch ( Hoằng Trạch ngày nay) - Thành (Hoằng Thành ngày nay) - Đại (Hoằng Đại ngày nay) - Lộc (Hoằng Lộc ngày nay). Ngày trước, trừ những hôm phiên chợ Quăng, thì chợ Mới hôm nào cũng họp, và chỉ họp phiên sáng, giờ thì họp tất cả các ngày trong tháng, thậm chí buổi chiều vẫn có người họp.
Đi ngược lên có Chợ Quăng của làng Hoằng Lộc, trước đây là chợ phiên, chỉ họp các ngày 5 - 10 - 15 - 20 - 25 - 30, và thường chợ chỉ đông vào phiên sáng, chiều đến khách chỉ lưa thưa. Thế nhưng bây giờ Chợ Quăng cũng họp hầu hết các ngày, bất kể sáng chiều, thậm chí là trưa. Còn nhớ, hồi hai không lẻ năm, khi đó tôi học lớp chín, khi thoảng vẫn cùng chúng bạn đạp xe lên chợ Quăng lấy trái bàng chín để ăn và bắt chim chích trên các ngọn cây kè. Những cây kè cao mươi mười lăm mét, mà hồi đó tụi trẻ con chúng tôi cứ leo như không, thế mới tài. Bây giờ có cho tiền cũng chả đứa nào dám.
Xa thêm chút nữa thì có chợ Bút ngay ngã tư Gòng , chợ Huyện ngoài mé khu Hoằng Anh, rồi chợ Vực, nhưng tôi cũng chẳng mấy khi qua lại mấy chợ này, bởi lẽ không có nhu cầu gì mà đường lại xa. Duy có chợ Huyện, là dăm ba lần chở mẹ tôi đi mua gạo, thì tôi còn bén mảng. Hồi đầu ngang chợ Huyện, đi qua đền Tứ Vị Cô Nương, tôi còn cảm thấy gì đó đậm màu huyền bí, giờ thì khác rồi.
Có chợ ắt có chùa, không chùa thì đền hoặc miếu, ít nhất phải có gì đó thuộc về phần tâm linh. Mạn cuối Hoằng Thành đầu Hoằng Lưu, xưa có chùa Trào Âm, trước chùa là chợ, nhưng giờ chợ đã lụi, mà chùa lại ngày một khang trang, một phần đất chợ giờ gộp làm đất chùa. Tuy nhiên, mạn dọc đường giờ lại nổi lên chợ cóc, tiếng là chợ nhưng cũng chỉ có dăm bảy hàng thịt cá, trái cây, phục vụ bà con xung quanh, và công nhân đi làm về tiện thì dừng xe lại mua ít đồ, xong đi ngay. Như vậy vừa tiện cho người mua, mà cũng tiện cho người bán, duy khi thoảng người xe như nêm, gây tắc đường thì có phần bất cập.
Hoằng Thành, 2018.01.30
Duy Phong Lê Đình Sơn

Thứ Ba, 27 tháng 2, 2018

Nhớ về Ông Ngoại

Ông Ngoại (Hình minh họa, nguồn: Internet)
Mai giỗ Ông Ngoại (12 tháng Giêng)!
Ông Ngoại mất đã lâu, từ hồi tôi mới học lớp 7. Lúc đó dẫu còn bé, song những câu chuyện về Ngoại thì tôi vẫn nhớ được đôi chút. Tôi vẫn nhớ rõ những câu chuyện trong mấy ngày trước và sau hôm Ngoại mất. Chiều trước hôm Ngoại đi, mấy chị em tôi đi làm đồng về còn tranh thủ ghé vào nhà Ngoại để ăn bánh chưng rán, bánh chưng còn từ Tết, giữ lại làm đồ ăn sáng để đi làm cho đến tận Rằm tháng Giêng. Chiều hôm đó, tình hình của Ngoại hãy còn  tốt, ấy vậy mà đến tối lại chuyển biến xấu đi. Nửa đêm, khi tôi đang chập chờn ngủ thì tôi đã nghe thấy có tiếng người vội vã gọi từ ngoài cổng, để báo tin Ngoại sắp đi. Đến tảng sáng, thì Ngoại đi thiệt!
Lúc Ngoại đi, tôi không có mặt ở đấy, mà chỉ được nghe các Dì kể lại! Với một đứa trẻ mười hai mười ba tuổi, thì thật khó để chúng tỉnh táo khi đang trong cơn ngái ngủ lúc nửa đêm hay buổi sớm mai, hay là cảm thấu về cuộc đời trong những phút giây quan trọng của đời người. Thấy nói, Ngoại đi cũng nhanh, dường như không còn gì nuối tiếc. Bây chừ nghĩ lại, phải chăng có nuối tiếc thì là tôi nuối tiếc!
Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh gầy guộc, lêu khêu, dáng đi nhanh nhẹ, đôi mắt quắc thước, đôi má hóp lại vì móm của Ngoại!
Cũng giống như Ông Nội, Ông Ngoại cũng thích uống rượu. Tửu lượng Ngoại không cao, nhưng lại có thể lai rai cả ngày. Cũng không biết có phải lúc đó tuổi Ngoại đã cao, nên tửu lượng cũng chững lại hay không! Cũng không biết có phải sở thích, hay thói quen của Ngoại, mà tôi hay thấy Ngoại để chai nửa gù nút lá chuối ngay đầu giường, mỗi lần cần chỉ khươu tay với với là có. Hồi đó tôi nghĩ, chai rượu là vật gối đầu của Ngoại lúc tuổi già. Tôi còn nhớ, vào những vụ lạc tháng 5, những lúc tôi ngồi nhặt lạc với Ngoại, cứ khi thoảng Ngoại lại đứng lên bắn một bi (chén), cho giãn gân cốt, rồi lại ngồi nhặt tiếp. Hồi đó, tuy việc trên Ngoại nhiều, nhưng cứ xong xuôi đâu đó là Ngoại lại vô xum giúp nhà tôi.
Khác với Ông Nội, Ông Ngoại lại bị móm sớm, ấy vậy mà Ngoại lại rất thích ăn xẩu bò xào khế chua, cái món mà ngay cả người sắc răng cũng phải ngả nón! Tôi cũng không hiểu sao Ngoại lại thích món đó như vậy, lúc đó tôi cũng không hỏi lí do, mà cũng không biết gì để mà hỏi. Bây chừ ngồi nghĩ lại, thì lại thấy cũng đơn giản: đơn giản là vì Ngoại thích, chỉ vậy thôi!
Ông Ngoại cũng rất thích các món quà bánh quê! Ngoại thích bánh khoái, bánh cúc, tôi nhớ nhất là hai thứ bánh ấy, đơn giản là vì tôi thấy Ngoại hay ăn, và khi thoảng mua cho tôi ăn! Miếng ngon nhớ lâu, các cụ nói cấm có sai, là bởi vậy. Hồi Ngoại còn sống, khi thoảng Ngoại hay đích thân xuống chợ mua, mặc dù Bà Ngoại hầu như hôm nào cũng đi chợ. Có vẻ, Bà Ngoại không chọn mua đúng khẩu vị của Ông Ngoại, mặc dù vẫn chỉ là quán đấy, người làm đấy, song giữa việc đích thân đi mua và người khác mua cho ăn, lại có sự khác biệt! Hồi đó, Ông Ngoại đi chợ hay đem theo cái túi cám con cò con con màu vàng, mua ít đồ và chai nửa gù rượu, cho vào và cầm túm miệng đem về. Bước chân của Ngoại cứ thoăn thoắt, mãi về sau, lúc yếu rồi thì mới có phần chậm lại.
Ồng Ngoại cũng thích… hát! Tôi nhớ, khi thoảng Ngoại lại ngâm một vài câu, mà độc toàn những câu Ngoại tự chế. Ví như câu: “Con bê đẻ ra con bò, anh ơi thức dậy mà nghe em hò!” Hồi đó, tôi nghe câu này là nhiều nhất, nên còn nhớ lại được! Khi thoảng, lặng nhớ về hình ảnh, điệu bộ và chất giọng của Ngoại mỗi khi hát, tôi lại không khỏi tủm tỉm cười.
Ông Ngoại còn biết đan mũ lá kè (lá cọ). Đấy là loại mũ có đỉnh như cái bát úp đội lọt đỉnh đầu, vành mũ thì tùy hứng mà Ngoại sẽ đan vành rộng như vành nón, hay vành bé thì to hơn vành cái mũ cối một chút. Hồi đó, tôi thấy Ngoại đan đẹp lắm, chả khác nào thợ đan chuyên nghiệp. Rồi cho đến những đôi quang, hay cây đòn gánh, đều một tay Ngoại làm. Mỗi khi cần làm gì, Ngoại lại cầm con dao phay ra đầu ngõ, đi lại một vòng, ngắm chọn một hồi, vung tay vài vung, vậy là đã có một cây tre, cây hóp ưng ý. Đấy là chuyện hồi trước, khi ngõ nhà Ngoại vẫn còn toàn những tre, duối, dừa, mây. Bây chừ thì quang nhẵn rồi! Lại nói chuyện Ngoại làm quang gánh, từ cây tre ưng ý đó, chỉ một vài cái chẻ chẻ, rồi ngồi vuốt vuốt, rút vài cây mây trên gác bếp xuống đan dây bện, mà Ngoại đã làm xong bộ quang gánh cho Bà cắt cỏ. Những hồi đó, Ngoại còn nuôi bò, rồi đi cày. Cũng lạ, hồi đó tôi chỉ thấy Ngoại nuôi toàn bò đực, con nào con nấy cứ lù lù như con trâu. Bây chừ, tôi không còn thấy nhà ai nuôi được những con bò đực to như ngày xưa Ngoại nuôi. Hồi ra Hà Nội học, có lần ngồi trên xe bus 36, đi qua đoạn gần chợ Trương Định (cũ), tôi thấy người ta bán loại mũ lá cọ gần giống với loại mũ ngày xưa Ngoại hay đan, hay đội, bất chợt một thứ cảm xúc ùa về, tôi xuống xe, ngược đường mua một cái để đội.
Ông Ngoại còn biết làm vòng bằng vỏ ốc nhồi, để đuổi chào mào vào những mùa khế chín. Hồi đó, cây khế ngọt nhà Ngoại nổi tiếng nhất vùng, đấy là giống khế ta, mà trái lại vừa to vừa ngọt. Thân cây cao to đến nỗi, đến lúc cây bị chết thì tôi vẫn chưa một lần leo lên được. Mỗi mùa khế chín, từng đàn chào mào không biết từ đâu cứ bay về, chao qua chao lại rồi sà xuống ăn khế. Thế rồi, Ngoại mới lượm vỏ ốc nhồi, dùng dây mây xâu lại thành từng chuỗi, trông không khác gì vòng cổ của Sa Tăng, rồi treo lên các cành khế. Mỗi khi chào mào về, nhảy từ cành này sang cành khác, làm động mà vòng vỏ ốc phát ra tiếng kêu, một thứ tiếng mà tôi chưa tìm ra được từ nào để miêu tả, đó là tiếng ma sát của các vỏ ốc chạm vào với nhau, rồi đập vào cành khế. Xào xào, xạc xạc, nghe cũng buồn cười, ấy vậy mà lại đuổi được bọn chào mào. Những thứ này, tôi lớn lên đã thấy Ngoại làm như vậy, mà hồi đó thấy sao biết vậy, chứ cũng không dò hỏi căn nguyên.
Ông Ngoại cũng nóng tính lắm đấy! Có lần, Ngoại cầm đòn gánh lùa đánh cậu Đồng chạy khắp khu Bái Trốc, bây giờ khi thoảng Cậu tôi vẫn kể lại chuyện đó, rồi mặt lại đần thối ra, dường như tâm tư. Chắc là Cậu đang nhớ Ngoại! Người xưa, mỗi khi bị Cha Mẹ đánh, đòn càng mạnh, càng đau, thì càng vui, ấy là bởi Cha Mẹ còn khỏe, nên đòn đánh hãy còn đau. Một mai, khi Cha Mẹ đánh đòn mà không còn thấy đau, thì lại ngồi khóc tu tu, ấy là xót Cha Mẹ tuổi đã cao, không còn sức để đánh đòn vậy! Lòng con cái trong thiên hạ, ai ai mà chẳng vậy!
Ông Ngoại không chỉ nóng tính, mà còn khó tính nữa! Kể cũng lạ, trong đám trai gái, dâu rể, mà Ngoại tôi lại chỉ thoáng với riêng Bố tôi, thậm chí là ưng Bố tôi nhất. Chắc là do Bố tôi cũng như Ngoại, thích uống rượu, mà tính Bố tôi lại thoải mái, tuy có lúc nóng tính, nhưng cứ xong thì lại thôi, nên Ông mới quý, mới hay ngồi cùng. Khi thoảng, đi đâu qua nhà tôi, thì Ngoại đều rẽ vào, những lúc như vậy, hai ông con không hiểu nói gì, mà Ngoại lại cứ không muốn đứng dậy đi. Khi thoảng Bố tôi có bận gì, nhờ một cái là Ông gật đầu cái rụp.
[…] Đến bây giờ, khi thoảng, tôi vẫn bắt gặp hình ảnh gầy gầy, cao cao, đôi mắt sâu mà sáng, nụ cười chóm chém, bước chân thoăn thoắt, thoắt ẩn thoắt hiện. Đấy là những khi trong những đám đông, tôi lại bắt gặp hình ảnh nào đó khiến tôi liên tưởng đến Ngoại tôi, như lúc này chẳng hạn.

Chiều 11 tháng Giêng năm Mậu Tuất, tại sân bay Ngô Vu (Nam Ninh, Trung Quốc).
Duy Phong Lê Đình Sơn cẩn bút!

Thứ Năm, 1 tháng 2, 2018

TẢN MẠN VỀ QUÊ

Gần nhà tôi có hai cánh đồng, cắt giữa là con đường thẳng chạy lên xóm Phúc Lộc, hồi xưa còn là đường đất, cứ mỗi mùa mưa là đường đất nhão nhoét, có đoạn bùn ngập đến mắt cá chân. Những năm gần đây, đô thị hoá nông thôn, đường làng cũng bê tông hoá, chi phí nhà nước chịu một phần, dân làng chịu một phần. Song chỉ bê tông những trục đường chính, các nhánh rẽ vẫn để nguyên đường đất. Hồi họp hành bàn làm đường, dân làng cãi nhau ỏm tỏi, rằng không làm đến ngõ nhà mình, thì sao phải đóng tiền, vụ này dây dưa khá lâu, về sau cũng được ổn thoả khi toàn dân hùn phí làm chung. Bây giờ về quê, đâu đâu cũng toàn bê tông, nom có vẻ khang trang, song đi lại cũng khá nhiều vấn đề. Ví như trưa hè thì đố ai dám chân đất ra đường, không bỏng chân thì cũng bị cát sỏi bào mòn chân. Hoặc thoảng đám nhỏ tập xe té thì có mà đau kêu giời, rồi chân tay chầy xước hết cả. Khi thoảng muốn đi chân trần trên đất thì cũng chẳng còn đường đất mà đi.

Hai cánh đồng, cánh mạnh bắc gọi nôm là đồng Sày, cánh mạn nam gọi nôm là đồng Đưng, tôi cũng chưa rõ sao lại gọi vậy. Bận trước tôi có đem mối hoặc này thỉnh một vài cụ cao niên trong làng, song cũng không cụ nào rõ cả, chỉ biết gọi theo tên người trước vẫn gọi.

Đồng Sày vụ lúa hè thu

Đồng Sày và đồng Đưng đều là ruộng trũng, mùa mưa nước dóng dánh ngang mặt đường. Hồi tôi học cấp một còn thấy người ta đem rồng kéo cá trên đồng Đưng vào mùa nước lũ, cá nhiều không kể. Về sau, do lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, nhiều loài bị huỷ diệt hết thảy. Những con cá đuôi cờ năm xưa vốn là loài có sức sống như cỏ dại, mà giờ cấm thấy thẳng. Rồi ốc nhồi, ốc bưu vàng, hồi trước phải đi nhặt để khỏi hại lúa, giờ cũng không thấy bóng, phần vì thuốc trừ sâu, phần vì trở thành món nhậu của dân ta. Xứ này, phàm những gì một khi trở thành món ăn thì đều đứng trước nguy cơ diệt chủng, đến con bọ xít còn bị tận diệt thì những loài khác khỏi nói. Mùa cạn, hai cánh đồng khô nứt, mầm lúa mọc lên từ gốc dạ mơn mởn, thả cho trâu bò ăn rồi thích chơi nghịch gì cũng được. Hồi cấp hai, tôi với tụi bạn còn hay làm diều đem thả, đến giờ nghĩ lại vẫn cứ như chuyện hôm qua. Những đêm hè, trăng sáng sao thưa, gió nam thoang thoảng, đóm bay chập chờn, mấy đám nhỏ nô đùa đuổi bắt, rồi chơi trốn tìm, thoảng có đứa bỏ về đi ngủ mà không báo với đồng đội, mặc mấy đứa khác lo lắng đi tìm. Hồi xưa còn hay mất điện, mỗi khi xong cơm tối là chung quanh ai nấy cũng rủ nhau ra ngồi hóng mát, có lần tôi ngủ quên ngoài đồng, bố tôi bế về lúc nào không hay, sáng ra tỉnh dậy chỉ thấy đang nằm trên giường.

Khoảng ba năm trước, một số hộ nảy ý định hút bùn lấp ruộng, rồi hút ruộng làm ao, thành thử cánh đồng trở thành ao xen đất, lổm nhổm mà chán. Từ những chỗ hút lấp đó, ao thì thả cá, đất thì trồng đủ thứ trên đời. Ngẫm lại thấy giống diễn thế sinh thái hồi xưa học sinh học được biết, rồi lại nhớ thơ cụ Tú Xương: “Sông kia rày đã lên đồng, chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai. Vẳng nghe tiếng ếch bên tai, giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”. Ấy là cụ Tú than về một khúc sông Vị quê cụ bị lấp, còn tôi lại tiếc cánh đồng chỗ tôi.

Từ ngày cánh đồng bị lấp, cây trồng phủ kín, đi trên con đường làng chẳng khác nào đi giữa hai bức tường thành, ngột ngạt khó chịu. Chẳng còn cánh đồng năm xưa, nơi hóng mát vui chơi, nơi nô đùa đá bóng, nơi mỗi khi hè đến mặc sức chạy nhảy. Rồi sắp tới, nhà nước gộp thôn, thôn Công Đức và thôn Phúc Lộc gộp lại làm một, nhà văn hoá chung sẽ được xây dựng ngay nên nền cánh đồng cũ, cánh đồng tuy không thẳng cánh cò bay, nhưng cũng rộng cánh ước mơ cho bao người, ít nhất trong đó có tôi. Hồi trước, khi thoảng tôi vẫn ra đầu ruộng đứng trông về phía xa xa, trông những ngọn tre cao rì rào, mấy ngọn bạch đàn cao không đối thủ, khi thoảng chim bay thành đàn, mùa mưa đậu chi chít trên nhành cây, đêm đến bị dân săn bắn từng bao tải.

Bây giờ, khi thoảng đi xa về, tôi vẫn giữ thói quen ra đứng ngoài đầu ruộng, thả trôi phiền muộn, tìm về gì đó đã mãi xa. Song, trước mặt không còn là cánh đồng năm xưa, mà thay vào đó là cây cối như rừng, phong cảnh khác xưa. Quả là: trời đất vẫn nguyên trời đất cũ, cỏ hoa nay khác cỏ hoa xưa.

Hoằng Hóa, 1.2.2018

Duy Phong Lê Đình Sơn