Thứ Ba, 28 tháng 4, 2020

GIẾNG NHÀ LẠI TRONG

         Giếng nhà lại trong sau bao năm tù đục.

Giếng nằm ngay trước nhà, thành giếng xây bằng gạch đỏ, ngoài trát xi măng. Tôi sinh ra đã thấy giếng trước nhà, cũng uống nước giếng mà lớn lên. Giếng được đào và xây từ khi nào, trong nhà cũng không ai nhớ rõ, Nội tôi bảo có từ thời Ông Cố. Trước, nhà Ông Cố tôi ở đây, sau để lại cho Thầy U tôi để chuyển lên phố.

Cuối những năm 90, phong trào khoan giếng nổi lên, Thầy U tôi cũng cố gắng khoan giếng cho bằng xóm bằng giềng. Từ ngày có giếng khoan, giếng khơi trước nhà nhiều phần bị ghẻ lạnh, nguồn nước truyền thống bơ vơ trước bể nước hiện đại. Giếng khơi trước nhà từ chỗ phục vụ mọi sinh hoạt, bây giờ chỉ còn dùng vào rửa ráy và tưới rau, sứ mệnh của nó đã được cắt bỏ đi nhiệm vụ quan trọng nhất.

Hơn chục năm trở lại đây, mấy chị em tôi lần lượt xa nhà, thầy u tôi nhiều khi bận việc cũng sớm đi tối về, cái giếng khơi càng không dùng đến. Rồi cũng không biết từ bao giờ, một vài nhánh cây đặt ngang miệng giếng làm chỗ leo cho đám mồng tơi, trong một thời gian dài ánh mặt trời không thể chiếu rọi xuống. Thoảng tôi về, gạt mấy nhánh cây nhìn xuống, một vài con chẫu chuộc sẩy chân rơi xuống tự khi nào, ngồi chỗm chệ trên nhánh cây nổi ngang mặt giếng, oai phong lẫm liệt, kêu oang cả giếng, chẳng khác nào bá chủ một vùng trời.

Một góc giếng nhà

  Tuần trước, Thầy tôi nảy ý thau giếng, nên cùng cậu em tôi hút nước vét bùn, đổ sỏi vùi cát, loay hoay mất hai ngày trời. Giếng nhà sau bao năm bị lãng quên, nay lại trong trở lại, trong lành mát ngọt, tựa nước quê hương. Tôi trở về nhà, múc liền vài xô rửa mặt mũi chân tay, bỗng tỉnh táo nhẹ nhõm, bao nhiêu phiền muộn lại được chính dòng nước năm xưa nuôi tôi lớn khôn gột sạch.

Hoằng Hóa, tối 29.04.2020

Duy Phong Lê Đình Sơn

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2020

Mấy ghi chép về sự biến mất của Gươm thần và Ấn báu nhà Lê


Đầu năm ngoái được ân sư nhờ xử lý một tập phả sử (gia phả nhưng chép sử), trong quá trình xử lý bắt gặp một đoạn chép về sự biến mất của thanh gươm khai quốc nhà Lê (kèm cả ấn báu). Đại khái là: “Năm Ất Tị (chưa tra được là năm bao nhiêu), vua [Uy Mục] du thuyền trên hồ, bỗng nhiên mưa to gió lớn, thuyền rồng bị lật, mất luôn cả kiếm thần và ấn báu. Vua sai quân lính dùng phên dày quây chỗ đó lại, tát nước tìm mà không đặng.” Bên cạnh đó, văn bản cũng cước chú một chi tiết: “Sử (tức Đại Việt sử ký toàn thư) nói: vua Thánh Tông băng, gươm thần và ấn báu cũng mất theo.”
Một đoạn gia phả sử chép về vua Uy Mục,
có nhắc đến chuyện mất gươm thần và ấn báu
Mới rồi, nhân lôi Toàn thư xuống, liền lật xem lại phần ghi chép về vua Thánh Tông, thì quả có chép: “Ngày Nhâm Thân 30 (tức ngày 30), vua băng ở điện Bảo Quang. Ngày hôm ấy gươm thần ấn thần đều mất.” 
Một đoạn bản dịch Đại Việt sử ký toàn thư (trang 724), Nxb Thời đại, 2011.
Lại nhớ, dạo trước đọc Kiếm Hồ ký của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, lại thấy viết rằng: “Xưa, khi nhà Lê sắp bị nhà Mạc tiếm, vua Tương Dực (1510-1516) đến chơi Hồ này, trước đã làm mất thanh gươm khai quốc [ở đây], tìm mãi mà chẳng được, bởi thế nên hồ có tên là Hồ Gươm (昔黎葉將僭於莫襄翼帝幸此湖先失其開國劍索之不得而湖始以劍名).
Từ mấy ghi chép trên, có thể thấy:
=>> Câu chuyện thanh gươm khai quốc của nhà Lê cũng lắm sự li kì, từ việc lượm được đến việc bị mất, đều đượm màu huyền bí. Tính sơ sơ, riêng ở đây đã có 3 ghi chép, đều khác với câu truyện dân gian vẫn kể: Thái Tổ được gươm, cũng chính Thái Tổ để mất gươm.
=>> Câu chuyện về thanh gươm thì chắc ít nhiều người người đều phần nào biết, nhưng vụ cái ấn thì ít thấy nhắc đến. Trong ghi chép thấy nói Thái Tổ được ấn báu [trong vườn] trước khi [xin được] gươm báu từ chỗ Lê Thận.
=>> Liệu rằng (mà rất có thể) chuyện về gươm thần và ấn báu phải chăng chỉ là thuyết âm mưu? Gươm và ấn đều đại diện cho sức mạnh và quyền lực, thổi thêm vào tí màu thần thánh cho linh?
Nhân Mỹ, chiều 14/04/2020, đọc nhanh chép vội
Duy Phong Lê Đình Sơn

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2020

Sứ mệnh của một con bò


Đêm qua, tôi lại mơ thấy con Vàng, máu me bê bết, khắp mình trọng thương, thực thê thảm.
Năm 99, kể từ khi nhà tôi mua con Vàng với giá 1400 tệ đến nay, tôi cũng không nhớ rõ đây là lần thứ bao nhiêu tôi nằm mơ thấy nó. Dường như nó chưa từng ra đi, vẫn luôn tồn tại trong những cơn ác mộng của tôi.
Thân thế của con Vàng kể cũng rất éo le, khi sinh nó thì mẹ nó đã có tuổi, do đó, ngay sau khi nó đủ sức kéo cày, thì mẹ nó liền bị bán cho lò mổ.
Trời sinh con Vàng như một cỗ máy làm việc, nếu như loài bò ở Madagasikara có thể nghe hiểu tiếng Pháp (Bullock, 2013), thì ngay từ bé con Vàng có thể nghe hiểu tiếng Choang. Từ lúc bé tí, nó đã cùng mẹ xuống đồng làm việc, mẹ nó kéo cày thì lẻo đẽo theo sau, trong khi đám bạn cùng trang lứa của nó đa phần vẫn đang chạy rông.
Dần dà, con Vàng không chỉ có thể nghe hiểu được các hiệu lệnh tắc - đi, họ - dừng, cũng như quay ngang rẽ trái, không chỉ có vậy, nó còn nghe hiểu được khi nào chủ nhân giận dữ hay quát mắng. Cho nên, trong khi các nhà khác đang phải gồng mình lên để điều khiển bò nhà mình, thì bố tôi lại chẳng hề tốn một chút sức lực điều khiển con Vàng. Mỗi khi đến khúc quay, nó đều tự biết, không hề chậm trễ hay sai sót.
Các nhà khác nuôi bò mệ, mỗi năm có thể đẻ được một lứa, rất có giá trị kinh tế. Song, bố tôi lại chỉ nuôi một mình con Vàng, để truyền lại nòi giống cho tất thảy bò mệ trong làng, thuần túy là nghĩa vụ chứ không hề có chút lợi ích nào. Bố tôi quyết định chỉ nuôi một mình con Vàng, bởi hai lý do: thứ nhất, con Vàng là một cỗ máy làm việc chăm chỉ, mùa nào việc nấy; thứ hai, con Vàng rất dễ nuôi, cứ tháo cửa chuồng thả ra, chẳng cần ai chăn dắt, nó có thể tự dò ra được những đàn bò khác đang ăn trên núi để nhập đàn. Hơn nữa, con Vàng chưa từng tự tiện xuống núi ăn hoa màu, trừ khi bị bị những bò cái khác dụ dỗ thì nó mới trở thành tòng phạm.
Con Vàng có hai tính cách hoàn toàn trái ngược, bình thường thì ngoan ngoãn chịu khó, trọng tình trọng nghĩa; nhưng có một điểm mà tôi cực ghét, đấy là háu chiến. Một trong những hành động vĩ đại nhất của con Vàng, đấy là có thể chung sống hòa bình với tụi lợn trong cùng một chuồng, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, kết thành tình hữu nghị bền vững.
Một lần, do nhà tôi không cẩn thận để hở cửa chuồng, hai đồng chí lợn đã cùng con Vàng leo lên núi Đại Minh cao hơn 400 mét, mãi đến xẩm tối cả lũ mới lững thửng dắt díu nhau đi xuống, quả là anh em chí cốt.
Lần khác, một con bò mệ không cẩn thận bị sẩy chân rơi xuống vách núi, chủ nhân con bò mệ kia vốn là một chủ lò mổ, nhìn thoáng đã biết không thể cứu chữa nên liền đến thẳng chỗ con bò mệ kia bị rơi xuống, trực tiếp mổ lấy thịt. Chỗ đấy, chỉ còn lại một vũng máu và phân.
Hôm khác, đã xảy ra một việc khiến tôi không thể nào quên.
Hôm đấy đã là hoàng hôn, khi những con bò đều đã từ trên núi đi xuống, con Vàng đi tới chân núi, ngửi thấy mùi còn sót lại của con bò mẹ xấu số kia, nó liền đứng đấy kêu rống lên, tiếng rống nhỏ xuống, tựa như vò gan dứt ruột. Lúc đó, những con bò khác nghe thấy tiếng rống đau thương của nó, liền đứng yên bất động. Con Vàng vẫn đứng đấy, kêu rống thảm thiết, nước mắt giàn dụa.
Từ bé đến lớn, tôi chưa từng gặp cảnh tượng nào như vậy, vừa kinh ngạc vừa sợ hãi. Hồi đó, lại đúng thời điểm xuất hiện bệnh bò điên của Anh, tôi còn cho rằng con Vàng bị điên.
Tuy cơ thể con Vàng tráng kiện, nhưng thời trẻ con Vàng cũng đã từng bị thương. Năm đó, không hiểu tại sao nó lại bị trật khớp vai chân trước, tập tễnh bước về. Lúc đấy, bà con trong thôn phân ra hai nhóm góp ý: thứ nhất, bán quách nó đi, đến bước đi còn không nổi thì còn làm ăn được gì; thứ hai, bị thương như vậy thì bán cũng mất giá, chi bằng thử nắn lại chân cho nó xem thử.
Sau khi suy nghĩ, bố tôi quyết định nắn lại xương cho con Vàng. Trong thôn không có bác sĩ thú y, nên mấy chú mấy bác cùng nhau vật ngã nó ra, dùng búa đóng lại chỗ xương bị trật cho nó. Chỉ nửa tháng sau, chân nó đã bình phục, bước đi lại nhẹ nhàng như không.
Thời trẻ, con Vàng là chú bò đực duy nhất trong làng, dáng vẻ hiên ngang, mặt mày rạng rỡ. Cho dù thân hình nó có hơi nhỏ bé, nhưng bù lại nó lại có một cặp sừng vừa đẹp vừa chắc, có lẽ đấy cũng chính là căn nguyên khiến nó rất háu chiến.
Trong suốt một thời gian dài, con Vàng thê thiếp hàng đàn, tất cả mấy chục con bò mệ trong làng đều là thê thiếp của nó, những chú bê con trong làng ít nhiều đều có nét giống nó. Dân làng đều biết chi phí nuôi bò đực, toàn toàn không chút kinh tế nào, cho nên rất ít người nuôi. Do đó, trong suốt nhiều năm, con Vàng không hề gặp phải bất cứ thách thức nào. Tuy nhiên, đúng vào hai năm cuối cùng của thế kỷ 20, quả như những gì Triệu Trung Tường trong chương trình thế giới động vật khi nói về con sư tử đực già đã hạ giọng: “Những ngày tháng tươi đẹp của nó đã hết rồi!”
Không ngờ, sự xuất hiện của con Đen đã bắt đầu thách thức quyền uy của con Vàng.
Đấy là một chiều xuân, khi hương vị cỏ non phơi phới hòa cùng chất đất, như một thói quen, tôi ngồi dưới chân núi đợi con Vàng. Chỉ là, bầu không khí hôm đấy rất không thoải mái. Trong khi tất cả trâu bò trong làng đều đã xuống núi, thì con Vàng mãi vẫn chưa thấy bóng. Thì ra, một trường quyết đấu đang sắp sửa xảy ra.
Tuy thân hình con Đen to lớn, nhưng từ nhỏ lớn lên bên cạnh con Vàng, nên cũng không dám khinh suất. Do đó, xung đột giữa chúng mới chỉ dừng lại bằng các pha mài sừng mang tính chất cà khịa. Bốn năm nay, con Đen tuy đã bốn tuổi nhưng vẫn rất cẩn trọng thăm dò sức mạnh của con Vàng. Mãi đến chiều nay, dưới sự kích thích của hoóc môn nam tính, trận quyết chiến cuối cùng mới xảy ra.
Con Vàng và con Đen thường ngày đều chạm trán nhau, con nào cũng ngiêng người thăm dò đối phương, từng tiếng thở phì phò, không khí như ngưng lại. Tuy con Vàng ở trị trí bên dưới, nhưng đôi mắt xanh đen ánh lên, nào có coi con Đen ra gì.
Song, rõ ràng con Vàng đã đánh giá thấp sức mạnh của con Đen.
Chỉ chưa đầy hai phút, con Vàng đã bị công kích, phải lui về từng đợt để chống trả, mặt đất chi chít vết chân do ác đấu. Trong chớp nhoáng, con Vàng đã bị con Đen húc lăn nhào trên đá sỏi dưới chân núi, con Đen ra sức ghì cổ con Vàng xuống, con Vàng thì bốn vó giữa trời, rống lên từng hồi bi thương. Lúc đó, tôi vô cùng lo lắng, chỉ sợ con Vàng sẽ hy sinh, liền vội lấy gậy đập uỳnh uỳnh lên người con Đen.
Con Đen biết điều, liền nhảy ra, nó ưỡn người rống lên một hồi, vẫy vẫy cái đuôi, nhấc chân bước về một cách hiên ngang. Con Vàng thảm bại, toàn thân lấm lem bùn đất, dưới đuôi còn hằn một vết thương rất sâu, nó cẩn trọng phía sau, gục đầu thê thảm.
Tôi vốn nghĩ, sự chuyển giao quyền lực của đàn bò trong thế kỷ 20 vốn đã kết thúc như vậy. Song, con Vàng trời sinh háu chiến, lần thất bại đầu tiên lại thua dưới tay người anh em từ nhỏ lớn lên bên cạnh, nên nó không cam lòng.
Do đó, kể từ sau trận quyết chiến đầu tiên, cứ hễ chạm mặt nhau là con Đen và con Vàng lại gườm gườm, lao vào húc nhau, bất kể trong trường hợp nào. Mỗi khi chúng tôi đang làm đồng, lại nghe thấy từng hồi rống của chúng trên núi, đương nhiên là chúng lại quyết đấu. Rất nhiều buổi chiều, con Vàng đều trọng thương trở về, ở cái tuổi đã xế chiều, nó lúc nào cũng thắng ít thua nhiều.
Cho đến một hôm, tôi lại ngồi dưới chân núi đợi nó trở về, trông thấy đầu nó máu me bê bết, tôi sợ quá kiểm tra, nhưng không tìm ra vết thương, cũng không rõ là máu chảy từ đâu ra.
Về nhà, đi qua chuồng con Đen, thấy khắp đầu con Đen toàn là máu tươi, lại gần xem xét thì phát hiện cặp sừng của nó đã gãy.
Lúc này, tôi mới vỡ lẽ lý do khiến đầu con Vàng bê bết máu tươi. Đấy có lẽ cũng là câu trả lời chắc chắn nhất cho con Vàng, khi trời sinh nó háu chiến, tuổi tác lại cao, thân hình lại nhỏ, nhưng càng đánh lại càng hăng, càng thua càng không bỏ cuộc.
Nhưng mà, con Vàng quả thực đã già, nó ngày càng thích ở một mình.
Theo thói quen của làng tôi, cứ sau mỗi mùa vụ, dân làng lại thả trâu bò lên núi Đại Minh chừng hai ba tháng để chúng hồi sức. Trước vụ thu đông, trên núi cỏ khô cây héo, trâu bò lại mới tự động trở về tránh đông. Mùa đông trước khi con Vàng đánh bại con Đen không lâu, nó đã không theo đàn trở về, một mình trên núi, dường như không muốn trở về nữa.
Do mỗi năm đều có trâu bò sẩy chân rơi xuống vách núi, nên bố mẹ tôi đều rất lo lắng con Vàng đã xảy ra chuyện gì bất trắc, dù sao thì nó cũng là tài sản đáng giá nhất trong nhà. Cho nên, bố mẹ tôi đã phải đội mưa đội gió, mặc kệ cái lạnh để tìm nó suốt một tuần trên đỉnh Đại Minh. Sau cùng, lần theo dấu chân và phân, bố mẹ tôi cũng tìm thấy nó tại một vị trí khá bằng phẳng.
Thấy chủ nhân đến, nó vẫn chậm rãi gặm những ngọn cỏ khô, bố tôi hắng giọng quát, nó liền vội quay đầu, đi thẳng về nhà.
Chị tôi lên trung cấp, tôi cũng lên cấp ba, áp lực kinh tế lại càng đè nặng lên đôi vai bố. Lúc này, nhà tôi phải thay đổi hoàn toàn sách lược trước đây, bố mua một con bê cái của nhà chú Sáu, dự định khi nó biết kéo cày thì sẽ bán con Vàng.
Sáng hôm bán con Vàng, tôi đang học cấp ba, bởi chưa nghỉ hè nên tôi không được về. Tôi sớm biết con Vàng đã hết thời, nhưng khi trở về thấy chuồng trại trống hươ trống hoác, trong lòng lại không khỏi trống trải. Không biết thợ mổ đã dùng chiếc búa bao nhiêu cân để đập nó.
Từ khi tôi biết nhớ chuyện đến giờ, nhà tôi tổng cộng nuôi đến bảy con bò, nhưng chỉ có con Vàng là đực, cũng chỉ duy nhất nó thường xuyên xuất hiện trong những giấc mơ của tôi. Tôi không nhớ rõ ngày sinh ngày mất của nó, nhưng từ khi tôi học lớp 3 đến lớp 10, nó đã bầu bạn với tôi suốt thời thơ ấu và thời thiếu niên.
Con Vàng háu chiến, nên tôi rất ghét phải khi đi chăn, do đó thường xuyên ngược đãi nó. Mỗi khi mẹ gọi tôi đi chăn, tôi đều ràng nó dưới gốc cây rồi ra sông đi bơi. Khi thoảng, lựa lúc mẹ đi làm, tôi lại dắt nó về chuồng, ném cho nó bó cỏ khô và thùng nước. Đương nhiên, những việc này đều khiến tôi phải trả giá, nếu như bố đi làm về thấy hông bò lép kẹp, thì tôi cũng coi như xong.
Con Vàng bầu bạn với tôi tám năm, nhưng chúng tôi cũng không quá thân mật, bởi nó chẳng bao giờ cho tôi cưỡi lên lưng. Song, hai mươi năm sau đó, tôi lại thường xuyên mơ thấy hình ảnh nó - một con bò đực với những hồi kêu tiếng rống đã hun đúc nên cơn ác mộng chăn bò của tuổi thơ, nhưng không hiểu sao tôi lại thường xuyên nhớ về nó.
Có lẽ, quê hương nên mới đậm chất “Quê” như vậy!

Duy Phong Lê Đình Sơn
Dịch tối 17.07.2019

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2020

Hoa Xoan - Nỗi nhớ Tháng Ba


Hết Giêng sang Hai, tiết trời chợt ấm chợt lạnh, chẳng khác tính khí mấy đứa con gái mới nhớn. Mới qua còn hửng nắng, sáng nay đã lất phất mưa phùn kèm gió lạnh. Nhưng chẳng sao, cái lạnh dẫu có cứng đầu thì cũng chẳng còn được mấy hôm nữa, bởi cây gạo đầu làng cũng đã trổ những nụ to bằng vốc tay trẻ con.
Hoa xoan nhuộm tím khoảng trời nhớ thương
Ngoài ao, mấy cân xoan đã nở hoa tím ngắt tự khi nào, rụng lả tả theo ngọn đông phong. Những cánh xoan rơi lấm tấm trên mặt đất, bám đầy trên bụi cây mây, ganh sắc tím với mấy luống hoa cà. Ở quê, hoa xoan dường như chẳng được cái tích sự gì, chỉ tổ rụng rác vườn, nên dầu có rụng ngập lối đi thì người ta cũng chẳng ngần ngại đạp thẳng chân mà đi. Cạnh bờ ao, giàn mướp vẫn trống hoắc, mấy tấm bèo ván bị gió thổi dạt vào một góc, cũng bị hoa xoan rụng phủ đầy. Chỉ có mấy con rô chẳng biết thích chí hay thế nào, thoảng quẫy đuôi đớp vu vơ cái “bập”, rồi lặn mất tăm.
Khác với hoa gạo, hoa xoan quê tôi nhiều vô kể, cảm giác như trong vườn bất cứ nhà nào cũng có một gốc. Có lẽ sự tồn tại của chúng ở khắp mọi nơi, khiến người ta cảm giác như sự hiện diện của chúng là lẽ tất nhiên, mà thói đời cái gì tất nhiên thì cũng sẽ khiến người ta ít để ý và coi trọng. Dường như thế, nên hoa xoan ở quê tôi là hình ảnh rất đỗi bình thường, nhưng tại sao hình ảnh rất đỗi bình thường đó lại gợi sự thân quen đến vậy? Có lẽ cũng bởi năm nào dịp đấy nó cũng xuất hiện, hơn nữa lại gắn liền với quê, mà cái gì liên quan đến quê thì đều trở nên gần gũi.
Hoa Xoan quê nhà - tranh vẽ sưu tầm trên mạng
Xoan là loài cây thân gỗ, nhưng lại dễ lên như cỏ dại; tuy cứng cáp, nhưng lại cũng rất mong manh, chỉ cần bị sâu đục thân là coi như đợi ngày đốn hạ. Xoan mọc giữa vườn, vươn lên từ trong bờ bụi, làm chỗ tựa cho khóm mây và bụi sắn dây. Ngày trước, bố tôi chặt một nhánh xoan to rồi đóng xuống cạnh bờ ao, dựng cột làm giàn mướp, vậy mà sau này nó mọc lên thành cây rất lớn. Rồi hạt xoan chín rụng xuống ở xó vườn, cũng chẳng mấy chốc lại nảy mầm, mọc lên thành cây. Cũng bởi sinh tính dễ dãi, nên dường như người ta ít trồng xoan, cứ để kệ tự nó mọc ra sao thì mọc, chỉ cần mọc đúng chỗ để không bị đốn đi là được.
Truyện Kiều (bản Liễu Văn Đường – 1866) có câu “Sầu đông càng khắc càng đầy, ba thu dọn lại một ngày dài ghê.”* Có người cho rằng, sầu đông cũng chính là tên gọi khác của hoa xoan, tôi cũng cho là vậy. Có lẽ, nỗi nhớ tháng ba chưa khi nào giống khi nào, nhưng nó luôn thật, thật như chính vẻ hiền lành của hoa xoan vậy.
Chiều 10.03.2020, Duy Phong viết tại Nhân Mỹ

* Chú thích hai câu Kiều "Sầu đông càng khắc càng đầy, ba thu dọn lại một ngày dài ghê": Sau khi gặp và từ biệt [chị em] Thúy Kiều, Kim Trọng trở về và đem theo nỗi nhớ nhung. Nỗi nhớ [Thúy Kiều] của Kim Trọng cứ chất chứa, ngày một lớn dần, khiến cảm tưởng về thời gian trở nên đằng đẵng. Ba thu, ý nói một ngày không gặp thôi mà tưởng chừng đã ba thu rồi (ba thu: có thuyết cho rằng ba thu là 3 tháng mùa thu, nhưng cũng có thuyết cho rằng ba thu là 3 năm).

Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2020

PHƯƠNG VIÊN CÁC KÝ (Bài ký về Gác trọ Vuông Tròn)

Duy Phong chuyển đến nơi ở mới, thỉnh Hy Nhân tiên sinh đề ba chữ Phương Viên Các làm biển phòng. Khách có người đến chơi, thấy bức biển liền hỏi: Mấy chữ gì thế? Duy Phong đáp: Phương Viên Các. Khách lại hỏi: Phương Viên Các có nghĩa là gì? Duy Phong cười mà đáp: Phương là vuông, Viên là tròn, Các ở đây hiểu là gác trọ, Phương Viên Các tức là Gác trọ Vuông Tròn đó vậy! Khách xem chừng chưa hiểu, lại thỉnh ta giải thích thêm, ta cũng gượng mà diễn giải thêm vài ba câu. Đại khái, ta treo bức biển này là để hằng ngày tự lấy đó mà răn mình, tại sao vậy?
Từ phải qua trái: PHƯƠNG VIÊN CÁC (ảnh: Hy Nhân Nguyễn Quang Duy)
Trong khoảng trời đất, trên không gì to lớn bằng trời, dưới không gì to lớn bằng đất; trời là cha vạn vật, đất là mẹ muôn loài, chẳng phải cũng dùng phương viên để hình tượng mà nói rằng trời tròn đất vuông hay sao? Con người nhỏ bé mà lại ở giữa, há lại không biết Vuông Tròn cho được!
Trong khoảng trời che đất chở, con người nhỏ bé mà lại tối linh. Sách Lão tử nói, người nương theo đất, đất lại nương theo trời, bởi vậy, phải biết vuông tròn thì mới có thể trọn đạo làm người mà ở giữa để hợp thành Tam tài. Đạo làm người, lấy vuông là gốc, lấy tròn là ngọn; coi vuông là thể, coi tròn là dụng. Vuông để giữ nguyên tắc, tròn để linh hoạt đối xử; vuông để ứng vạn biến; tròn để thuận sự thế. Thế nhưng, vuông quá thì dễ rơi vào cứng nhắc, tròn quá lại dễ sa vào a dua. Vậy nên, có thể mềm dẻo khi cần, cứng rắn khi nên, trong vuông có tròn, trong tròn có vuông, biết vuông biết tròn tức là hiểu đạo lý làm người, từ đó răn bản thân phải ghi lòng tạc dạ để đãi nhân tiếp vật cho vẹn vuông tròn.
Từ trên xuống dưới
PHƯƠNG VIÊN TỊNH DỤNG
(ảnh: Hy Nhân Nguyễn Quang Duy)
Nhân vật nhất như – người sao vật vậy. Vật vuông thì dễ đặt, tròn thì dễ lăn. Có vuông có tròn thì mới nên khuôn nên phép, mới nên hữu dụng. Song, dẫu biết tròn dễ lăn, nhưng vẫn phải vuông để làm khuôn mẫu. Lại nhớ Thư luận có câu: phương viên tịnh dụng, trung trắc kiêm bị. Lúc phương lúc viên, khi chuyển khi chiết; nhân theo thế bút mà phương viên cho hợp độ, tuỳ tâm sở dục, tuỳ ý đưa bút. Đấy chẳng phải cũng là một tầng cảnh giới của việc viết chữ hay sao!
Than ôi, ta mấy năm nay học thư, nhưng vẫn chỉ dừng lại ở chỗ lâm mô, không thoát ra được khỏi cái vỏ đường nét, vẫn thường lấy đó để răn thúc bản thân phải tinh cần hơn nữa. Từ ý phương viên tịnh dụng, lại ngẫm về đạo đối nhân xử thế, há chẳng phải là hai việc khác nhau mà lại cùng gặp nhau ở chỗ vuông tròn hay sao? Khách nghe xong, thấy thích liền nói: Sao bác không lưu lại những điều đó lại? Ta liền sửa soạn giấy bút, chép lại mấy lời để ghi nhớ.
Sau tiết Thượng Nguyên năm Canh Tý, Duy Phong viết ở Phương Viên Các.

Thứ Ba, 21 tháng 1, 2020

MẤY DÒNG VỀ GIỖ BÀ CỐ

         Giỗ Bà Cố (Mẹ của Bà Nội, cũng tức Bà Ngoại của Bố tôi) nhằm ngày hăm tám tết. Ông Cậu tuy là em út trong nhà, song lại được nhận trọng trách thờ cúng các cố, chăm lo giỗ chạp. Nhà Ông Cậu trên phố, từ quê lên cũng không quá xa. Trước đây, mỗi đến giỗ chạp, Bố tôi và các chú đều đạp xe lên, sau này thì chạy xe máy. Từ ngày xây cầu Hoàng Long, hầu như không còn đi đường cầu Hàm Rồng [cũ], rồi từ ngày có cầu Nguyệt Viên, đường lên nhà Ông Cậu cũng nhanh hơn.

Chuẩn bị xuất phát

Nhiều năm trở lại đây, tôi thường được giao trọng trách đưa đón Bà Nội lên nhà Ông Cậu chơi rồi ăn giỗ, thoảng có năm bận việc thì có các chú thay chân. Năm nay, Bà Nội đau chân mỏi gối, nên không lên được, nên Ông Nội lên thay. Ông Nội trước nay rất sốt sắng công việc, từ chiều qua đã liên tục nhắc tôi đúng 7h sáng sẽ xuất phát, sợ tôi quên, 6h sáng nay Ông còn lên nhà giục xuống ăn sáng để lên đường cho sớm. Hai Ông cháu, người xách gói quà, người cầm đĩnh vàng, chú Tới còn gửi nguyên con gà để Ông xách lên gửi giỗ.

Những ngày áp Tết, công việc ai cũng bận rộn, những người có thể lên phố ăn giỗ như tôi có xứng đáng được gọi là thiên thần?

Thanh Hóa, 22.1.2020 (28 Tết Canh Tí)

Duy Phong Lê Đình Sơn